Chuyển đến nội dung chính

Phát triển du lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long trong hội nhập quốc tế

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN


Một Ngày Ở Chợ Nổi Cái Răng Cần Thơ

      1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến luận án


Ngày nay du lịch là hoạt động kinh tế không thể thiếu của một quốc gia. Cùng với sự phát triển kinh tế, mức sống và thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao, thì du lịch trở thành nhu cầu thiết yếu. Những năm gần đây tại Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng ngành du lịch đã thu hút được nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà hoạt động thực tiễn trong nước nghiên cứu trong đó tiêu biểu là:
-  Công trình nghiên cứu của Hà Văn Siêu và Hoàng Đạo Cầm (2010) về “Một số định hướng và giải pháp chung phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020” đã chỉ ra những khó khăn, thách thức chủ yếu đối với phát triển du lịch trong Vùng cũng như xác định những định hướng chủ yếu và những giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch ĐBSCL. Những khó khăn mà công trình nghiên cứu đề cập như hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật yếu kém, hạn chế về nhận thức và mức sống, nguồn nhân lực du lịch số lượng chưa đủ đáp ứng và chất lượng cũng chưa cao, hạn chế về công tác xúc tiến và sự ổn định trong công tác quản lý nhà nước. Một vấn đề nổi cộm nữa là tình trạng trùng lắp trong xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch. Việc thành lập Hiệp hội du lịch ĐBSCL là một nổ lực lớn cho phát triển du lịch của Vùng, tuy nhiên do còn nhiều hạn chế nên Hiệp hội vẫn chưa thực sự phát huy được hiệu quả. Công trình nghiên cứu đã đưa ra quan điểm và định hướng chủ đạo để phát triển du lịch ĐBSCL, nhằm thúc đẩy sự phát triển của du lịch trở thành ngành kinh tế có đóng góp thực sự quan trọng cho Vùng mà vẫn bảo đảm được tính bền vững của môi trường tài nguyên của Vùng. Nghiên cứu chỉ ra định hướng phát triển chủ yếu của vùng ĐBSCL là phát triển du lịch sinh thái miệt vườn; cảnh quan sông nước; phát triển du lịch văn hóa lễ hội – làng nghề truyền thống và phát triển du lịch biển đảo chất lượng cao. Công trình nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp cho từng loại hình du lịch để tránh trường hợp sản phẩm du lịch bị trùng lắp. Tác giả cũng đưa ra những giải pháp về phát triển thị trường khách du lịch cũng như các giải pháp về nguồn nhân lực, đầu tư, xúc tiến quảng bá và giải pháp hợp tác liên kết để phát triển du lịch. Những giải pháp đưa ra trong công trình nghiên cứu thật sự là nguồn tham khảo hữu ích cho sự phát triển du lịch nói chung của vùng ĐBSCL nói riêng

-   Phú Văn Hẳn (2011) nghiên cứu về: “Phát triển du lịch văn hóa dân tộc ở

    ĐBSCL” tác giả đã nêu lên thực trạng yếu kém về chất lượng cơ sở hạ tầng như đường sá, điện, giao thông công cộng chưa phát triển, môi trường tự nhiên và nhân văn bị ô nhiễm ở nhiều mặt và sự phát triển dịch vụ “hỗn loạn” gây khó chịu cho cả du khách và người dân địa phương. Tác giả còn gợi ý ĐBSCL có thể lựa chọn loại hình du lịch cứng hay du lịch mềm, nhưng không nên sao chép các loại hình phát triển du lịch hiện có tại các quốc gia khác, mà nên tận dụng nguồn tài nguyên hiện có và cân nhắc đến các khía cạnh địa phương để có kế hoạch và chính sách phù hợp về lâu dài. Để thu hút du khách thì cần có nguồn kinh phí thích đáng để bảo tồn và phát huy vốn văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng ĐBSCL, tăng cường giữ gìn các sản phẩm văn hóa đặc sắc, các sinh hoạt truyền thống, văn hóa nghệ thuật dân tộc như nhạc Ngũ Âm, sân khấu Dù Kê, lễ hội Ok Om Bok – đua Ghe Ngo, biểu diễn trống Bana, đờn ca tài tử...
-    Công trình nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Huỳnh Thị Thúy Loan,

     (2012) về “phát triển du lịch lễ hội tại ĐBSCL” đã nêu lên rất nhiều lễ hội đặc trưng trong tổng số 1237 lễ hội của vùng ĐBSCL. Thời gian diễn ra lễ hội thường không kéo dài và phạm vi ảnh hưởng không quá lớn nhưng vẫn có sức hấp dẫn riêng, đặc biệt là các lễ hội dân gian và lễ hội tôn giáo thu hút đông đảo du khách thập phương tham dự (Có đến 854 lễ hội dân gian và 262 lễ hội tôn giáo diễn ra hàng năm). Công trình nghiên cứu chỉ ra thực trạng phát triển cũng như những điều còn tồn tại vướng mắc trong công tác tổ chức du lịch lễ hội ở vùng ĐBSCL, đóng góp đáng kể nhất của công trình nghiên cứu này là một số hướng mà tác giả đề ra với mong muốn góp phần giải quyết những vấn đề đang “níu chân” sự phát triển du lịch văn hóa của vùng ĐBSCL là nội dung của lễ hội và công tác tổ chức bên cạnh hai vấn đề chính là liên kết và nguồn nhân lực. Nội dung chính của công trình nghiên cứu tập trung vào giải quyết các vấn đề như: bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống, giữ vững nét đặc trưng văn hóa; phát triển các hoạt động trong phần hội, khôi phục các trò chơi dân gian đặc trưng, các môn thể thao truyền thống, các hoạt động văn nghệ dân gian chứa đựng giá trị riêng của từng vùng miền, khác biệt hóa sản phẩm của từng địa phương; kết hợp giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, giới thiệu đặc sản ẩm thực địa phương; tạo điều kiện cho du khách đi lại và ăn   thuận lợi, an toàn, đảm bảo an ninh trật tự và đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm; đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng như đường sá, di tích liên quan đến lễ hội và xây dựng các công trình phụ trợ khác phục vụ cho hoạt động vui chơi giải trí và mua sắm của du khách; cần có kế hoạch cụ thể, lâu dài, tránh việc chỉ đáp ứng ngắn hạn trong thời gian lễ hội; đẩy mạnh xúc tiến quảng bá du lịch lễ hội một cách thường xuyên và có hiệu quả bằng nhiều hình thức và phương tiện thông tin cả trong nước và nước ngoài nhằm thu hút du khách; tham khảo ý kiến của các cơ quan địa phương để phân loại, lựa chọn các lễ hội có thể biến thành sản phẩm phục vụ cho từng đối tượng du khách, tạo nên sự nhất quán trong việc tổ chức lễ hội, tìm hiểu văn hóa ẩm thực cũng như tham quan các danh lam thắng cảnh; đẩy mạnh đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch lễ hội nhằm giúp cho họ có đủ kiến thức và kĩ năng truyền tải được nội dung, ý nghĩa của các lễ hội cho du khách, đặc biệt là khách quốc tế.

-   Nguyễn Quốc Nghi và Phan Văn Phùng (2010) trong nghiên cứu về “Giải pháp phát triển tuyến du lịch biển liên kết Việt Nam – Campuchia – Thái Lan” đã đưa ra những hướng để xây dựng và củng cố sự liên kết nhằm đẩy mạnh hoạt động lữ hành quốc tế trong khu vực tam giác du lịch tiểu vùng sông Mêkong. Nói đến du lịch biển thì đây vốn là thế mạnh của khu vực miền Trung, tuy nhiên Kiên Giang với Phú Quốc, Hà Tiên, Kiên Lương,… đã mở ra hướng phát triển loại hình này cho vùng ĐBSCL. Nếu có sự liên kết giữa các quốc gia trong khu vực thì loại hình du lịch này sẽ được khai thác được hiệu quả hơn.
-    Nguyễn Phước Quý Quang (2013) nghiên cứu về “Du lịch làng nghề ở ĐBSCL – một lợi thế văn hóa để phát triển du lịch” đã cho thấy du lịch làng nghề không chỉ mang lại lợi nhuận kinh tế, giải quyết vấn đề lao động cho địa phương mà còn bảo tồn được các giá trị văn hóa đặc sắc bản địa. Tuy nhiên, thực trạng hoạt
    động của loại hình này vẫn chưa thực sự phát triển, chưa đóng vai trò quan trọng trong các tour du lịch về vùng ĐBSCL. Công trình nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp đề xuất trước mắt cũng như lâu dài để “chấp cánh” cho loại hình du lịch còn nhiều tiềm năng này. ĐBSCL hiện có rất nhiều làng nghề đang hoạt động và được công nhận như: bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc, đan giỏ xách nhựa     Đồng Tháp, nghề chiếu Long Định, hủ tiếu Mỹ Tho, hay làng nghề tủ thờ Gò
     Công đã có hàng trăm năm, làng đan lưới Thơm Rơm,…Tuy nhiên, thực tế các làng nghề vẫn chưa thực sự hoạt động hiệu quả do thiếu vốn, không chủ động được nguồn nguyên liệu, đầu ra yếu kém hơn nữa do chậm đổi mới, thiết bị lạc hậu không giữ chân được nguồn lao động địa phương tiếp tục duy trì và phát triển các làng nghề. Từ những thực tế trên, tác giả đã đề ra giải pháp trong ngắn hạn và dài hạn bao gồm:

+  Giải pháp trong ngắn hạn: Trước mắt là phải có một ban ngành riêng biệt cụ thể quản lý hệ thống các làng nghề trên cả hai phương diện kinh tế và du lịch. Quảng bá rộng rãi các làng nghề đang hoạt động ở vùng, tổ chức hoạt động “ngày hội làng nghề” để tăng sức hút với du khách, tuyên truyền và phổ biến cho người dân về cách cư xử văn minh với khách du lịch cũng như cập nhật những công nghệ thông tin mới nhất để phục vụ cho phát triển các làng nghề. Ưu tiên sử dụng nguồn nhân lực tại địa phương, đồng thời thu phí từ các công ty du lịch để tái đầu tư. Kinh doanh sản phẩm lưu niệm là sản phẩm của làng nghề và đưa vào khai thác loại hình tour: “một ngày làm nghệ nhân”.
Đến Cần Thơ tham quan làng nghề Chằm nón lá hấp dẫn

Bánh Pía Vũng Thơm miền tây
Thăm làng hoa Tân Quy Đông
+   Giải pháp trong dài hạn: Thành lập phòng giới thiệu sản phẩm để tạo hệ thống dịch vụ trưng bày và bán sản phẩm. Quy hoạch chi tiết ở từng làng nghề như: khu đỗ xe, khu ăn uống, khu vệ sinh,…Tăng cường đầu tư để dần hoàn thiện các sản phẩm du lịch bên cạnh đó giữ gìn các sản phẩm du lịch đặc thù. Đẩy mạnh các kênh tuyên truyền như website, báo, tạp chí, truyền hình... Cần chú trọng đến việc liên kết với nguồn nhân lực của các tỉnh lân cận, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Chính quyền địa phương cần có kế hoạch rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển làng nghề, hoàn thiện kết cấu hạ tầng, bên cạnh đó có chính sách hỗ trợ phân chia thu nhập cho cộng đồng làng nghề cách hợp lý để giữ chân được những lao động lành nghề.

-   Tăng Thị Duyên Hồng (2010) nghiên cứu về “Du lịch bền vững dựa vào cộng đồng – một giải pháp phát huy lợi thế sông và biển, đảo trong phát triển du lịch tại ĐBSCL” đề cập đến yếu tố bền vững trong phát triển du lịch ở ĐBSCL cần dựa vào cộng đồng và cũng đề ra một số giải pháp để nâng cao hơn nữa chủ đề du lịch cộng đồng ở ĐBSCL. Du lịch bền vững dựa vào cộng đồng cũng đang trên đà trở thành “thương hiệu” du lịch của ĐBSCL. Loại hình này đặc biệt có đóng góp thiết thực vào sự phát triển của cộng đồng dân cư địa phương và đang rất được quan tâm hiện nay.

Năm 2007 Tổ chức phát triển Hà Lan đã tài trợ thực hiện “nghiên cứu về du lịch cộng đồng ở Việt Nam”, dự án này được thực hiện bởi Bùi Thanh Hương và
     Nguyễn Đức Hoa Cương của trường Đại học Hà Nội. Dự án này nghiên cứu về các mô hình Du lịch cộng đồng tại Việt Nam, đưa ra những đặc điểm cơ bản, việc triển khai thực hiện, những thách thức gặp phải, từ đó rút ra bài học cho việc quy hoạch và tổ chức thực hiện cho loại hình này. Bài nghiên cứu đề cập cụ thể đến trường hợp của Tiền Giang – Đảo Kỳ Lân và An Giang – Mỹ Hòa Hưng tuy nhiên cũng có phần mở rộng cho các địa phương trong vùng. Đây là một công trình bài bản và có giá trị cho các nhà hoạch định để quy hoạch phát triển loại hình này cho vùng ĐBSCL.
Mô hình Khu du lịch sinh thái 
-   Một loại hình du lịch nữa mà không thể không nhắc đến khi bàn về du lịch vùng ĐBSCL chính là du lịch sinh thái. Tuy nhiên, cũng giống như các loại hình khác, khoảng cách giữa tiềm năng và sự phát triển hiện tại của du lịch ĐBSCL vẫn là vấn đề nhức nhối. Nguyên nhân cho vấn đề này được rất nhiều nhà nghiên cứu mổ xẻ phân tích như loạt công trình nghiên cứu của Huỳnh Quốc Thắng (2011) “Văn hóa sinh thái sông, biển & Du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long” (2011) – tạp chí khoa học Xã hội và “Góp thêm ý tưởng về chiến lược phát triển sản phẩm du lịch ĐBSCL” (2009) - Kỷ yếu hội thảo Phát triển du lịch bền vững vùng ĐBSCL, Thành phố Cần Thơ, “Phát triển du lịch bền vững vùng ĐBSCL” của Phạm Trung Lương (2012), “Thời cơ và định hướng liên kết phát triển du lịch ĐBSCL trên nền sông nước” của Nguyễn Trần Dương (2010) hay “ Một số suy nghĩ về liên kết phát triển du lịch biển, đảo, sông vùng ĐBSCL” của Nguyễn Thanh Tuyền (2010). Đồng thời, các công trình nghiên cứu tại các hội thảo du lịch này cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp trong mọi hoạt động cả ngành mà nhấn mạnh là giải pháp liên kết, hợp tác và đầu tư phát triển hoạt động du lịch qua đó học hỏi kinh nghiệm của bạn bè thế giới trong công tác quản lý du lịch.
Hiện tại các tài liệu nghiên cứu dưới dạng các giáo trình, tài liệu tham khảo về du lịch ĐBSCL còn ít, chủ yếu là các sách mang tính tham khảo, sổ tay hướng dẫn du lịch, báo cáo kinh tế,…có rất ít những giáo trình tài liệu tham khảo chính thức về thực trạng phát triển du lịch của vùng. Có thể tìm thấy thông tin trong các sách viết về Nam Bộ nhưng cũng chỉ riêng lẻ từng tỉnh chứ không phải là tổng thể cho cả Vùng, ví dụ như:

-   Tài liệu “Du lịch ba miền” (Bửu Ngôn, 2012), khi viết về miền Nam tác giả có đề cập đến các tỉnh ĐBSCL, tuy nhiên chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sơ lược về vị trí địa lý, các địa danh thắng cảnh du lịch ở mỗi tỉnh, cung cấp những thông tin về chỗ ở, các quán ăn, thông tin về điểm và các tuyến điểm du lịch,…Chính vì vậy tài liệu mang tính chất như là một quyển sổ tay du lịch.

-   Trong “Nam Bộ Xưa & Nay” (nhiều tác giả, 2013) các tác giả đề cập đến vùng “Đất lành chim đậu” dưới góc độ lịch sử của vùng ĐBSCL từ lúc hình thành, trải qua các thời kì lịch sử cho đến nay cũng như nêu lên sự gắn kết giữa cộng đồng dân cư trong vùng.

-  Còn với “Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ” (Trần Ngọc Thêm và cộng sự, 2013) đã trình bày một cách khái quát nhất con người và mảnh đất vùng ĐBSCL và cho rằng Tây Nam Bộ là vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, với 
vị trí địa lý, cùng điều kiện tự nhiên thuận lợi cũng như có nền văn hóa đa dạng và đặc biệt có thể đóng góp cho phát triển kinh tế của cả nước. Để phát huy được tính đặc biệt này thì cần “một chất liệu tinh thần là văn hóa” vì “Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” (Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII, 1998), “phát triển văn hóa là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế xã hội” (Hội nghị lần thứ 10 của Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Việt Nam khóa IX, 2004). Công trình nghiên cứu cung cấp một cái nhìn tổng thể về các thành tố của Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, tìm hiểu hệ tính cách văn hóa đặc trưng để trên cơ sở đó nhận diện bản sắc văn hóa vùng của khu vực Tây Nam Bộ cùng các hệ quả, các điểm mạnh và điểm yếu của nó trong quá trình đi sâu vào toàn cầu hóa và hội nhập. Từ việc hiểu rõ văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ sẽ giúp giải thích các vấn đề khúc mắc nảy sinh trong mọi mặt đời sống văn hóa xã hội hiện tại, điều đó sẽ góp phần vào phát triển du lịch. Chính vì vậy, việc hiểu được vấn đề này sẽ giúp được nhiều trong việc nhìn nhận, đánh giá khả năng phát triển du lịch của vùng ở góc độ văn hóa.

Một số công trình nghiên cứu trong nước tiêu biểu khác liên quan đến phát triển du lịch mà tác giả được tiếp cận như:
-    “Nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam thời kỳ hội nhập” (Hoàng Tuấn Anh, 2016) đã cho thấy được tầm quan trọng của du lịch trong phát triển kinh tế của đất nước. Chỉ rõ sự quan tâm của Nhà nước đến sự phát triển du lịch thông qua các nghị quyết miễn thị thực có thời hạn đối với công dân một số quốc gia. Bên cạnh đó còn có rất nhiều chính sách mới nhằm cải thiện những yếu kém hiện tại, thúc đẩy du lịch phát triển đặc biệt là trong thời kì hội nhập. Du lịch phát triển sẽ tạo động lực cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đưa hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam ra thế giới.

-  Đề tài “Phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo tại Lào Cai” của (Phan Ngọc Thắng, 2008) phân tích mô hình phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo tại miền núi, nhiều đề xuất phát triển du lịch có tính thuyết phục. Tuy vậy, công trình nghiên cứu phát triển du lịch Lào Cai vẫn chưa được đặt trong tổng thể phát triển du lịch vùng Tây Bắc.
-  Công trình nghiên cứu “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng” (Trần Tiến Dũng, 2007), tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê điều tra chọn mẫu để phân tích du lịch bền vững và hệ thống đánh giá du lịch bền vững từ đó đưa ra một số giải pháp cho phát triển du lịch bền vững Phong Nha – Kẻ Bàng. Tuy nhiên, các giải pháp vẫn chưa nhấn mạnh đến tính liên vùng trong phát triển du lịch.

             -    Công trình nghiên cứu “Phát triển du lịch tỉnh An Giang đến năm 2020”
      (Mai Thị Ánh Tuyết, 2007) đã đưa ra mô hình pháp triển du lịch đặc trưng của

     Đồng bằng Sông Cửu Long, nhấn mạnh tính liên vùng với những đề xuất có tính thực tiễn cao. Tuy nhiên, tác giả chỉ ập trung phân tích và nghiên cứu hoạt động du lịch ở một địa phương là An Giang.

-   Đề tài luận án tiến sĩ “nghiên cứu Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” (Nguyễn Cao Trí, 2011) đã phân tích hệ thống đánh giá năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp du lịch tại TP.HCM trong mối liên hệ với ngành du lịch của các địa phương khác, bài nghiên cứu đã vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu và lý thuyết cạnh tranh để xác định và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp du lịch tại TP. HCM.

-   Đề tài “Nghiên cứu Kinh tế du lịch ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong hội nhập kinh tế quốc tế” (Nguyễn Thị Hồng Lâm, 2013) đã đánh giá một cách tương đối đầy đủ và chi tiết về thực trạng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, phân tích những thành tựu và hạn chế, tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến các kết quả trên. Công trình nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp mang tính tổng hợp và đồng bộ từ phát triển sản phẩm du lịch, giải pháp về đầu tư, liên kết du lịch đến giải pháp phát triển bền vững…đối với kinh tế du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Bài nghiên cứu trên rất gần gũi với đề tài nghiên cứu của tác giả tuy nhiên được nghiên cứu ở một vùng khác.
Ngoài ra, còn một số hội thảo khoa học về du lịch được tổ chức ở Việt Nam cũng được tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu như:
-  Hội nghị Quốc tế về du lịch bền vững ở Việt Nam do Tổng cục Du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (Cộng Hòa Liên Bang Đức) được tổ chức tại Huế, tháng 5/1997.

-  Hội thảo “Du lịch sinh thái với phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam” diễn ra tại Hà Nội, tháng 4/1998;
-   Hội thảo “Xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam” được tổ chức vào tháng 9/1999, tại Hà Nội, do Tổng cục Du lịch phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới và Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương.
-  Tại Diễn đàn Du lịch Á Âu (ASEM 2008) lần thứ 3 với chủ đề “Tăng cường quan hệ đối tác Á Âu vì sự phát triển du lịch bền vững” đã được tổ chức tại Việt Nam trong tháng 9/2008.

-  Ngày 12/5/2010, tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Học viện MêKông (Thái Lan) và Trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế phối hợp tổ chức Hội thảo Quốc tế về “Quản trị du lịch sinh thái cộng đồng”.

-  Tháng 6/2012, Tổng cục Du lịch đã phối hợp cùng Cơ quan Hợp tác Quốc tế Tây Ban Nha tổ chức tập huấn, hội thảo với chủ đề “Hướng dẫn phát triển du lịch có trách nhiệm”, hội thảo nằm trong khuôn khổ dự án “Tăng cường cho ngành Du lịch Việt Nam trong thực hiện “Chiến lược phát triển Du lịch giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn 2030”.

-  Tổng cục Du lịch tổ chức hội thảo “Hoàn thiện nội dung sổ tay hướng dẫn du lịch sinh thái ở Việt Nam” tháng 5/2012.
-   Tháng 4/2013, dự án MEET-BIS đã phối hợp với Tổng cục Du lịch tổ chức Hội thảo “Du lịch xanh nhằm hướng tới phát triển du lịch Việt Nam bền vững”, trong đó, rất nhiều tham luận được trình bày về cơ sở lý luận và những kinh nghiệm thực tiễn phát triển Du lịch của Việt Nam theo hướng bền vững và gắn với hội nhập quốc tế.
-   Hội thảo khoa học “Phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn của các tỉnh, thành phía nam” tháng 10/2016 của tỉnh ủy Bình Phước, các bài viết tập trung nghiên cứu về vấn đề phát triển bền vững ở từng địa phương ở khu vực phía nam trong đó có các tỉnh thuộc ĐBSCL, tuy nhiên mỗi địa phương được nghiên cứu một cách riêng lẻ theo thực tiễn ở mỗi nơi, chưa được nghiên cứu trên phương diện tổng thể của toàn vùng.

-   Ngày 16/4/2016, tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Việt Nam, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội thảo xây dựng Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Hội thảo đề cập đến Việt Nam sẽ phát triển hệ thống sản phẩm du lịch bền vững, có tính cạnh tranh cao với 4 sản phẩm chủ đạo là du lịch biển đảo, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái và du lịch đô thị, theo đó sẽ phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng theo vùng tạo sự độc đáo, khác biệt và đa dạng hóa sản phẩm dựa trên hệ thống sản phẩm du lịch của 7 vùng gồm: Vùng Trung du và miền núi Bắc bộ, Vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, Vùng Bắc Trung bộ, Vùng duyên hải Nam Trung bộ, Vùng Tây Nguyên, Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Vùng Đông Nam bộ với các sản phẩm du lịch đặc thù, du lịch chính, du lịch bổ trợ và thị trường thu hút khách cụ thể. Hội thảo nhấn mạnh đến sự hợp tác giữa hàng không và du lịch, vai trò của doanh nghiệp và tầm quan trọng của việc thu hút và đào tạo nguồn nhân lực, đề xuất phát triển du lịch có trách nhiệm và phát triển du lịch đi đôi với bảo vệ môi trường…

-   Hội thảo khoa học cấp Trường về “Quy hoạch du lịch hướng đến phát triển bền vững” của Viện Du lịch thuộc trường Đại học Kinh tế TP. HCM ngày 25/11/2016 có các bài viết về quy hoạch phát triển du lịch dưới các góc độ khác nhau. Tác giả Đoàn Thị Hồng Vân cùng với Trần Việt Khoa và Hà Đức Sơn viết về “du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam” – bài viết đã làm rõ được bản chất, đặc điểm và vai trò của du lịch tâm linh, tìm ra được những nguyên nhân làm cho du lịch tâm linh chưa phát triển đúng với tiềm năng của nó.

Cũng trong Hội thảo, nổi bật có bài viết của tác giả Nguyễn Đức Trí về “Phát huy giá trị văn hóa cội nguồn để phát triển sản phẩm du lịch tại Đồng bằng Sông Cửu Long” cụ thể lấy Tiền Giang - là một trong những điểm đến tiêu biểu của du lịch ĐBSCL, có nhiều nét văn hóa tương đồng với các tỉnh còn lại - làm địa bàn nghiên cứu. Trong bài viết tác giả đã trình bày và phân tích rõ các khái niệm về văn hóa, giá trị văn hóa cội nguồn và khuynh hướng phát triển du lịch văn hóa cội nguồn, giải thích rõ thế nào là sản phẩm du lịch và tầm quan trọng của phát triển sản phẩm du lịch nói chung và phát triển sản phẩm du lịch văn hóa cội nguồn nói riêng, mang đến cho người đọc những góc nhìn khác nhau về văn hóa cội nguồn.

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu, luận án tiến sĩ, giáo trình giảng dạy về du lịch… đã đề cập đến vấn đề Du lịch với những góc độ tiếp cận khác nhau, tiêu biểu như của các tác giả: Lê Văn Lanh, Phạm Trung Lương, Nguyễn Thị Hải, Đặng Duy Lợi, Nguyễn Thị Sơn…

-  “Du lịch sinh thái những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” (Phạm
      Trung Lương, 2010).

-    “Du lịch sinh thái – Ecotourism” (Lê Huy Bá, 2006); Du lịch bền vững (Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, 2001).
-   “Phát triển du lịch bền vững - quan điểm chiến lược của phát triển du lịch Việt Nam” kỷ yếu Hội nghị Toàn quốc về phát triển bền vững tháng 12/2004 (Vũ Tuấn Cảnh và Phạm Trung Lương, 2004).

Từ các công trình nghiên cứu trên cho thấy các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về một lĩnh vực, sản phẩm cụ thể của ngành du lịch ở riêng lẻ từng địa phương, chưa có cái nhìn tổng thể cho hệ thống phát triển du lịch chung của vùng, sự tác động của các yếu tố bên ngoài như: hội nhập quốc tế, quản lý nhà nước,…cũng như yếu tố bên trong như: các loại hình du lịch trong vùng, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch, tầm quan trọng của nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch của vùng,…

Xuất phát từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả đã xác định những khoảng trống trong nghiên cứu, trên cơ sở đó xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến phát triển du lịch vùng ĐBSCL, từ đó đi sâu vào phân tích thực trạng và đề ra những chính sách và giải pháp phù hợp nhằm phát triển du lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Một số công trình nghiên cứu của các học giả và nhà nghiên cứu của nước ngoài được tác giả tiếp cận, chủ yếu tập trung nghiên cứu một số vùng sinh thái đặc trưng của ĐBSCL, tiêu biểu như:

Một số ấn phẩm của các tác giả nước ngoài đã được tác giả tham khảo như:

-   Commonweath of Autralia (1991) cho rằng du lịch là một động lực to lớn cho tăng trưởng kinh tế và đem lại những lợi ích văn hoá, xã hội cho cộng đồng dân cư, tuy nhiên nó cũng có những tác động tiêu cực đối với chất lượng sống như môi trường, văn hoá, việc làm, thu nhập…vì vậy cần có sự quản lý chặt chẽ, có hiệu quả. Báo cáo cũng chỉ ra 5 vấn đề cơ bản cần phải quản lý như: đầu tư - liên kết – việc làm – văn hoá – nghệ thuật và ngành nghề thủ công.

-   Nghiên cứu của Clemmer (1991) cho rằng sự hiếu khách thể hiện ở sự chào đón của người làm du lịch và người dân bản xứ sẽ làm cho du khách vui theo một cách “riêng biệt, độc đáo”, là nhân tố để thu hút khách du lịch.
-    Nghiên cứu của Smith (1994) chỉ ra rằng hoạt động dịch vụ trong du lịch
    như: ngắm nhìn khung cảnh, chỗ nghỉ, chỗ ngồi khi đi thăm quan, thưởng thức các loại hình văn hoá dân tộc… sẽ giúp cho phần “vật lý cốt lõi của sản phẩm du lịch” trở nên hữu ích và hấp dẫn đối với du khách.

-     WorldFish Center (2003) với cuốn “Wetlands Management in Vietnam Issues and Perspectives” đã có những nghiên cứu khá chi tiết các vấn đề liên quan đến vùng đất ngập nước tại Đồng bằng Sông Cửu Long và hệ sinh thái của Vùng nhằm khai thác tiềm năng của Vùng cho phát triển du lịch.
-  Theo Diabo (2003) Du lịch có quan hệ chặt chẽ với các “giá trị thương mại”, cộng đồng dân cư bản xứ cần được tham gia vào “hoạch định, phát triển, khai thác và quản lý” hoạt động du lịch trên chính vùng đất của họ.

-   Nghiên cứu của Altman và Finlayson (2003) cho rằng sự phát triển của du lịch đòi hỏi những kỹ năng, trình độ mà không phải người dân bản xứ nào cũng có
     thể đáp ứng được như: trình độ ngoại ngữ, kỷ luật, theo học các khoá huấn luyện, kỹ năng giao tiếp với du khách.
-   Đại học Sydney và Trung tâm tài nguyên Mekong Úc (2004) đã xuất bản “Working paper số 10 Ecotourism and Community based Ecotourism in the Mekong region” đã phân tích về du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng tại vùng Mekong, đánh giá tiềm năng và thế mạnh về du lịch sinh thái của Vùng và đề xuất những giải pháp phát triển du lịch sinh thái của Vùng.

-   Phát triển du lịch văn hoá cội nguồn cũng được một số học giả nước ngoài nghiên cứu. Sự hấp dẫn của văn hoá cội nguồn trong du lịch đã được một số học giả nghiên cứu như: Urry, 1990; Crang, 2004; Salazar, 2009. Thoe Reiner (2015) sự hấp dẫn của du lịch văn hoá cội nguồn nằm ở chỗ thấu hiểu về nơi chốn và văn hoá. Theo Hager (2003) và Mather – Simard (2003) hoạt động văn hoá cội nguồn cần được kiểm soát, chỉ đạo và phối hợp giữa “chính quyền địa phương với các thành viên có uy tín trong cộng đồng và người dân bản xứ”.

-    IUCN (2008) xuất bản cuốn “The Ecosystem Approach – Learning from experience” trong đó đã nghiên cứu trực tiếp đến hệ thống sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm Chim vùng Đồng Tháp Mười, từ đó đưa ra những chính sách bảo tồn và phát triển Tràm Chim Đồng Tháp Mười.


1.3 Đánh giá về các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến luận án


1.3.1 Những nghiên cứu liên quan được tác giả kế thừa và phát triển trong luận án

-   Các công trình nghiên cứu liên quan đến du lịch Vùng ĐBSCL, đã chỉ rõ tiềm năng lớn về du lịch của Vùng đặc biệt là những tiềm năng về tự nhiên.
-   Các nghiên cứu cũng chỉ ra khả năng phát triển đa dạng phong phú các sản phẩm du lịch của Vùng, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch sông nước miệt vườn.
-   Nghiên cứu về du lịch ĐBSCL cũng chỉ ra cần phải có quy hoạch phát triển,

đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng để khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh về du lịch, để tạo các sản phẩm du lịch đặc thù của Vùng, đồng thời phải nâng cao chấtlượng dịch vụ du lịch, đẩy mạnh hoạt động quảng bá, liên kết vùng, mở rộng tour tuyến để phát triển du lịch vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế,
-  Các công trình nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu và nhà hoạt động thực tiễn trong và ngoài nước cùng đã phân tích, đánh giá được những tính chất, đặc điểm, nội dung cơ bản liên quan đến phát triển du lịch tại một số địa phương của Việt Nam. Điều này cũng hữu ích cho việc nghiên cứu hoạt động du lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.

-   Các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước cũng chỉ ra rằng: để phát triển du lịch cần bảo tồn, phát triển các giá trị văn hoá cội nguồn, xây dựng văn hoá du lịch, phối hợp giữa chính quyền với người dân địa phương vùng ĐBSCL trong phát triển du lịch.

-   Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đề cập đến việc phát triển du lịch của Việt Nam và vùng ĐBSCL bao gồm các nội dung chính như: phát triển sản phẩm du lịch, phát triển thị trường du lịch, thu hút đầu tư cho phát triển du lịch, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển du lịch, phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của một số địa phương vùng ĐBSCL....đã góp phần cho phân tích, lý giải những điểm mạnh, điểm yếu trong phát triển du lịch vùng ĐBSCL, từ đó góp phần đưa ra những giải pháp phù hợp để phát triển du lịch của Vùng trong hội nhập quốc tế.

-  Các công trình nghiên cứu liên quan đến du lịch ĐBSCL của các học giả, nhà nghiên cứu và nhà hoạt động thực tiễn trong, ngoài nước cũng đem lại nhiều giá trị về lý luận và thực tiễn cho phát triển du lịch ĐBSCL. Đặc biệt, các công trình nghiên cứu liên quan đến môi trường tự nhiên và hệ sinh thái của vùng ĐBSCL đã gây được sự quan tâm, chú ý của các tổ chức quốc tế về bảo tồn môi thiên nhiên, cũng như quảng bá và thu hút khách du lịch khi đến vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đây là những nghiên cứu có giá trị về khoa học và thực tiễn được tác giả kế thừa trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án.

1.3.2. Những khoảng trống trong các công trình nghiên cứu về du lịch liên quan đến luận án


-   Một số công trình nghiên cứu nước ngoài đề cập đến xu hướng phát triển du lịch của khu vực và thế giới tác động đến sự phát triển của du lịch Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về du lịch trong nước tập trung chủ yếu vào các địa phương ngoài vùng ĐBSCL, hoặc từng địa phương riêng lẻ trong vùng ĐBSCL, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về phát triển du lịch vùng Đồng bằng Sông Cửu Long trong hội nhập quốc tế.

-  Các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến du lịch vùng ĐBSCL còn thiên về lý luận, chỉ dừng lại mức độ nghiên cứu tổng quát, hàn lâm, hoặc nghiên cứu một địa phương trong vùng ĐBSCL, chưa nghiên cứu chi tiết, tổng thể nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch vùng ĐBSCL. Các công trình nghiên cứu vẫn chưa nghiên cứu sâu về những đặc trưng về văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện tự nhiên… của toàn vùng ĐBSCL.

-   Có thể thấy các công trình nghiên cứu về du lịch liên quan đến đề tài được tác giả tham khảo, đã chỉ ra những tồn tại bất cập trong hoạt động du lịch, đồng thời xác định một số tiềm năng, thế mạnh chưa được khai thác của du lịch vùng ĐBSCL. Các nghiên cứu này, còn mang tính rời rạc cho từng loại hình và từng địa phương, từng địa điểm du lịch của Vùng chưa đi sâu vào những giải pháp tổng thể cho phát triển du lịch của vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đây cũng là những nghiên cứu cần thiết được tác giả kế thừa để phân tích và đưa ra những giải pháp phù hợp cho phát triển du lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.

-   Các công trình nghiên cứu liên quan chưa chỉ ra phải làm sao liên kết phát triển du lịch vùng ĐBSCL với các tỉnh, thành phố phía Nam, với vùng duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, các vùng phía Bắc, trong khu vực và thế giới, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội từng địa phương, từng vùng, nhưng vẫn đảm bảo được sự thống nhất với chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch của Việt Nam.
-  Các công trình nghiên cứu về du lịch ở trong và ngoài nước chưa chỉ ra biện pháp để huy động mọi nguồn lực cho phát triển du lịch hài hòa với các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng, đồng thời thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực du lịch, không chỉ là việc chính quyền giới thiệu có bao nhiêu dự án, chính sách ưu đãi thế nào, quan trọng hơn là chính quyền phải cam kết những việc gì là cơ bản và chủ yếu mà mình phải làm để đồng hành cùng nhà đầu tư để phát triển du lịch ĐBSCL.

-   Các công trình nghiên cứu về du lịch cũng chưa đưa ra những giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch, cán bộ quản lý các doanh nghiệp du lịch và các khu du lịch tại các địa phương, việc liên kết đào tạo, tập huấn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực du lịch của các địa phương vùng ĐBSCL.


Tóm tắt chương 1


Trong chương 1, tác giả đã phân tích, đánh giá tóm tắt các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề phát triển du lịch nói chung và du lịch ĐBSCL nói riêng trong thời kỳ hội nhập.

Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả đã tham khảo nhiều công trình nghiên cứu, luận án, các bài báo khoa học cùng với một số hội thảo về du lịch diễn ra trong nước. Các bài viết được tham khảo dưới nhiều góc độ khác nhau như: các tài liệu nghiên cứu dưới dạng các công trình nghiên cứu chuyên khảo, đề tài, luận án giới thiệu tổng quan về điều kiện tự nhiên, văn hóa và con người vùng ĐBSCL. Một số công trình nghiên cứu chi tiết và cụ thể hơn về du lịch Vùng để đưa ra một số định hướng và giải pháp phát triển du lịch Vùng, đặc biệt là việc phát triển các loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, miệt vườn, du lịch lễ hội, du lịch văn hóa dân tộc, du lịch làng nghề,…Ngoài ra, tác giả còn tham khảo một số bài viết chuyên khảo về phát triển du lịch của các địa phương trong vùng ĐBSCL, để kế thừa và phát triển trong quá trình nghiên cứu luận án.

Bên cạnh các bài công trình nghiên cứu trong nước, tác giả còn tham khảo một số công trình nghiên cứu của nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài chủ yếu tập trung nghiên cứu về hệ sinh thái đặc trưng của vùng ĐBSCL, các thế mạnh và tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cội nguồn và du lịch cộng đồng, từ đó đề xuất các giải pháp cho phát triển du lịch của Vùng.


Từ việc nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả rút ra những nội dung nghiên cứu được kế thừa trong luận án, đồng thời xác định những khoảng trống trong các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến du lịch phát triển du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế, từ đó làm cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu và đề ra những chính sách và giải pháp để phát triển du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.
 Tác giả: TS.Nguyễn Hoàng Phương

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Thực trạng và giải pháp sản phẩm du lịch vùng đồng bằng sông cửu long - Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Phương

Đồng bằng sông Cửu Long – một điểm đến không còn xa lạ với du khách trong và ngoài nước những năm gần đây. Trải dài gồm 13 tỉnh và 01 thành phố, ĐBSCL mang nhiều nét đặc trưng về tự nhiên và văn hóa tạo ra một sức hút đặc biệt cũng như tiềm năng lớn để phát triển hơn nữa hoạt động kinh doanh du lịch. Bên cạnh đó, cũng còn nhiều vấn đề cần giải quyết, nổi cộm nhất chính là tính dễ trùng lắp của sản phẩm dịch vụ ở từng địa phương trong Vùng – đây cũng là yêu cầu cấp thiết để phát triển du lịch bền vững ĐBSCL. Du lịch Việt Nam trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về số lượt khách quốc tế và cả nội địa, tổng doanh thu cũng như có sự đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm quốc dân Việt Nam. Hình ảnh du lịch quốc gia đã được biết tới trên thị trường du lịch khu vực và thế giới… Tuy nhiên, ngành du lịch vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ phát triển không bền vững, hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch chưa được như mong đợi, trong đó, những tồn tại về sản phẩm d...

Chuyên đề "Phát triển du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long trong hội nhập quốc tế" - TS.Nguyễn Hoàng Phương

CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 4.1. Tổng quan du lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế 4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội ảnh hưởng đến phát triển du lịch vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Vẻ đẹp rừng U Minh ĐBSCL được xác định là một trong bảy vùng kinh tế quan trọng nằm ở cực Nam của lãnh thổ Việt Nam với vị trí địa lí thuận lợi, ĐBSCL là cầu nối giao thương giữa các nước trong khu vực. ĐBSCL là nơi được thiên nhiên ưu đãi với khí hậu ôn hòa, hệ thống sông ngòi chằng chịt, hệ sinh thái đa dạng,… Sự phát triển không ngừng của ĐBSCL trong những năm qua luôn hàm chứa những giá trị văn hóa tinh thần lớn lao, đó là sự kết tinh từ bao công sức của những người đi khai hoang, mở mang vùng đất mới và của biết bao thế hệ đã góp sức dựng nên. Theo thời gian các giá trị văn hóa của mảnh đất này ngày càng được khẳng định và phát triển một cách mạnh mẽ, bền vững. Những ưu thế này giúp ĐBSCL có khả năng đa dạng...

Phát triển hợp tác xã kiểu mới từ thực tiễn Thành phố hồ chí minh của TS.Nguyễn Hoàng Phương

                                     Có thể nói ý tưởng về mô hình kinh tế hợp tác ở Việt Nam đã xuất hiện từ sớm, đến thời của Hồ Chí Minh những tư tưởng, lý luận về hợp tác xã được khái quát một cách hệ thống trong tác phẩm “Đường Cách Mệnh” và tổ chức hợp tác xã đầu tiên ra đời vào tháng 3/1948. I. CƠ SỞ LÝ LUẬN           Kinh doanh theo hình hình thức hợp tác xã theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.   Trong lý luận của Mác – Ph.Ăngghen nông dân và nông nghiệp chiếm vị trí và vai trò quan trọng bởi lẽ giai cấp nông dân là đông minh của giai cấp vô sản, đặc biệt là ở những nước nông nghiệp nếu không nhận thức đúng được vai trò và vị trí của vấn đề nông nghiệp và nông dân thì việc cải biến xã hội chủ nghĩa sẽ khó đạt được thành công. Gắn liền với mục tiêu phát triển xã hội, nâng cao ...