CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
![]() |
Một Ngày Ở Chợ Nổi Cái Răng Cần Thơ |
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến luận án
Ngày nay du lịch là hoạt động
kinh tế không thể thiếu của một quốc gia. Cùng với sự phát triển kinh tế, mức
sống và thu nhập của người dân ngày càng được nâng cao, thì du lịch trở thành
nhu cầu thiết yếu. Những năm gần đây tại Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng
ngành du lịch đã thu hút được nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà
hoạt động thực tiễn trong nước nghiên cứu trong đó tiêu biểu là:
- Công trình nghiên cứu của Hà Văn Siêu và Hoàng Đạo Cầm (2010) về “Một số
định hướng và giải pháp chung phát triển du lịch ĐBSCL đến năm 2020” đã chỉ ra
những khó khăn, thách thức chủ yếu đối với phát triển du lịch trong Vùng cũng
như xác định những định hướng chủ yếu và những giải pháp đẩy mạnh phát triển du
lịch ĐBSCL. Những khó khăn mà công trình nghiên cứu đề cập như hệ thống cơ sở
hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật yếu kém, hạn chế về nhận thức và mức sống,
nguồn nhân lực du lịch số lượng chưa đủ đáp ứng và chất lượng cũng chưa cao,
hạn chế về công tác xúc tiến và sự ổn định trong công tác quản lý nhà nước. Một
vấn đề nổi cộm nữa là tình trạng trùng lắp trong xây dựng và phát triển sản
phẩm du lịch. Việc thành lập Hiệp hội du lịch ĐBSCL là một nổ lực lớn cho phát
triển du lịch của Vùng, tuy nhiên do còn nhiều hạn chế nên Hiệp hội vẫn chưa
thực sự phát huy được hiệu quả. Công trình nghiên cứu đã đưa ra quan điểm và
định hướng chủ đạo để phát triển du lịch ĐBSCL, nhằm thúc đẩy sự phát triển của
du lịch trở thành ngành kinh tế có đóng góp thực sự quan trọng cho Vùng mà vẫn
bảo đảm được tính bền vững của môi trường tài nguyên của Vùng. Nghiên cứu chỉ ra
định hướng phát triển chủ yếu của vùng ĐBSCL là phát triển du lịch sinh thái
miệt vườn; cảnh quan sông nước; phát triển du lịch văn hóa lễ hội – làng nghề
truyền thống và phát triển du lịch biển đảo chất lượng cao. Công trình nghiên
cứu cũng đưa ra một số giải pháp cho từng loại hình du lịch để tránh trường hợp
sản phẩm du lịch bị trùng lắp. Tác giả cũng đưa ra những giải pháp về phát triển thị
trường khách du lịch cũng như các giải pháp về nguồn nhân lực, đầu tư, xúc tiến
quảng bá và giải pháp hợp tác liên kết để phát triển du lịch. Những giải pháp
đưa ra trong công trình nghiên cứu thật sự là nguồn tham khảo hữu ích cho sự
phát triển du lịch nói chung của vùng ĐBSCL nói riêng
- Phú Văn
Hẳn (2011) nghiên cứu về: “Phát triển du lịch văn hóa dân tộc ở
ĐBSCL” tác giả đã nêu lên thực trạng yếu kém về
chất lượng cơ sở hạ tầng như đường sá, điện, giao thông công cộng chưa phát
triển, môi trường tự nhiên và nhân văn bị ô nhiễm ở nhiều mặt và sự phát triển
dịch vụ “hỗn loạn” gây khó chịu cho cả du khách và người dân địa phương. Tác
giả còn gợi ý ĐBSCL có thể lựa chọn loại hình du lịch cứng hay du lịch mềm,
nhưng không nên sao chép các loại hình phát triển du lịch hiện có tại các quốc
gia khác, mà nên tận dụng nguồn tài nguyên hiện có và cân nhắc đến các khía
cạnh địa phương để có kế hoạch và chính sách phù hợp về lâu dài. Để thu hút du
khách thì cần có nguồn kinh phí thích đáng để bảo tồn và phát huy vốn văn hóa
truyền thống đặc sắc của vùng ĐBSCL, tăng cường giữ gìn các sản phẩm văn hóa
đặc sắc, các sinh hoạt truyền thống, văn hóa nghệ thuật dân tộc như nhạc Ngũ
Âm, sân khấu Dù Kê, lễ hội Ok Om Bok – đua Ghe Ngo, biểu diễn trống Bana, đờn
ca tài tử...
- Công
trình nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Huỳnh Thị Thúy Loan,
(2012) về “phát triển du lịch lễ hội tại ĐBSCL” đã
nêu lên rất nhiều lễ hội đặc trưng trong tổng số 1237 lễ hội của vùng ĐBSCL.
Thời gian diễn ra lễ hội thường không kéo dài và phạm vi ảnh hưởng không quá
lớn nhưng vẫn có sức hấp dẫn riêng, đặc biệt là các lễ hội dân gian và lễ hội
tôn giáo thu hút đông đảo du khách thập phương tham dự (Có đến 854 lễ hội dân
gian và 262 lễ hội tôn giáo diễn ra hàng năm). Công trình nghiên cứu chỉ ra
thực trạng phát triển cũng như những điều còn tồn tại vướng mắc trong công tác
tổ chức du lịch lễ hội ở vùng ĐBSCL, đóng góp đáng kể nhất của công trình
nghiên cứu này là một số hướng mà tác giả đề ra với mong muốn góp phần giải
quyết những vấn đề đang “níu chân” sự phát triển du lịch văn hóa của vùng ĐBSCL
là nội dung của lễ hội và công tác tổ chức bên cạnh hai vấn đề chính là liên kết và
nguồn nhân lực. Nội dung chính của công trình nghiên cứu tập trung vào giải
quyết các vấn đề như: bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống, giữ vững nét
đặc trưng văn hóa; phát triển các hoạt động trong phần hội, khôi phục các trò
chơi dân gian đặc trưng, các môn thể thao truyền thống, các hoạt động văn nghệ
dân gian chứa đựng giá trị riêng của từng vùng miền, khác biệt hóa sản phẩm của
từng địa phương; kết hợp giới thiệu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, giới thiệu
đặc sản ẩm thực địa phương; tạo điều kiện cho du khách đi lại và ăn ở thuận lợi, an toàn, đảm bảo an
ninh trật tự và đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm; đầu tư nâng cấp cơ sở hạ
tầng như đường sá, di tích liên quan đến lễ hội và xây dựng các công trình phụ
trợ khác phục vụ cho hoạt động vui chơi giải trí và mua sắm của du khách; cần
có kế hoạch cụ thể, lâu dài, tránh việc chỉ đáp ứng ngắn hạn trong thời gian lễ
hội; đẩy mạnh xúc tiến quảng bá du lịch lễ hội một cách thường xuyên và có hiệu
quả bằng nhiều hình thức và phương tiện thông tin cả trong nước và nước ngoài
nhằm thu hút du khách; tham khảo ý kiến của các cơ quan địa phương để phân
loại, lựa chọn các lễ hội có thể biến thành sản phẩm phục vụ cho từng đối tượng
du khách, tạo nên sự nhất quán trong việc tổ chức lễ hội, tìm hiểu văn hóa ẩm
thực cũng như tham quan các danh lam thắng cảnh; đẩy mạnh đào tạo và bồi dưỡng
đội ngũ hướng dẫn viên du lịch lễ hội nhằm giúp cho họ có đủ kiến thức và kĩ
năng truyền tải được nội dung, ý nghĩa của các lễ hội cho du khách, đặc biệt
là khách quốc tế.
-
Nguyễn Quốc Nghi và Phan Văn
Phùng (2010) trong nghiên cứu về “Giải pháp phát triển tuyến du lịch biển liên
kết Việt Nam – Campuchia – Thái Lan” đã đưa ra những hướng để xây dựng và củng
cố sự liên kết nhằm đẩy mạnh hoạt động lữ hành quốc tế trong khu vực tam giác
du lịch tiểu vùng sông Mêkong. Nói đến du lịch biển thì đây vốn là thế mạnh của
khu vực miền Trung, tuy nhiên Kiên Giang với Phú Quốc, Hà Tiên, Kiên Lương,… đã
mở ra hướng phát triển loại hình này cho vùng ĐBSCL. Nếu có sự liên kết giữa
các quốc gia trong khu vực thì loại hình du lịch này sẽ được khai thác được
hiệu quả hơn.
-
Nguyễn Phước Quý Quang (2013)
nghiên cứu về “Du lịch làng nghề ở ĐBSCL – một lợi thế văn hóa để phát triển du
lịch” đã cho thấy du lịch làng nghề không chỉ mang lại lợi nhuận kinh tế, giải
quyết vấn đề lao động cho địa phương mà còn bảo tồn được các giá trị văn hóa
đặc sắc bản địa. Tuy nhiên, thực trạng hoạt
động của loại hình này vẫn chưa thực sự phát triển,
chưa đóng vai trò quan trọng trong các tour du lịch về vùng ĐBSCL. Công trình
nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp đề xuất trước mắt cũng như lâu dài để
“chấp cánh” cho loại hình du lịch còn nhiều tiềm năng này. ĐBSCL hiện có rất
nhiều làng nghề đang hoạt động và được công nhận như: bánh tráng Mỹ Lồng, bánh
phồng Sơn Đốc, đan giỏ xách nhựa ở Đồng
Tháp, nghề chiếu Long Định, hủ tiếu Mỹ Tho, hay làng nghề tủ thờ Gò
Công đã có hàng trăm năm, làng đan lưới Thơm
Rơm,…Tuy nhiên, thực tế các làng nghề vẫn chưa thực sự hoạt động hiệu quả do
thiếu vốn, không chủ động được nguồn nguyên liệu, đầu ra yếu kém hơn nữa do
chậm đổi mới, thiết bị lạc hậu không giữ chân được nguồn lao động địa phương
tiếp tục duy trì và phát triển các làng nghề. Từ những thực tế trên, tác giả đã
đề ra giải pháp trong ngắn hạn và dài hạn bao gồm:
+ Giải pháp trong ngắn hạn: Trước mắt là phải có một ban ngành riêng biệt
cụ thể quản lý hệ thống các làng nghề trên cả hai phương diện kinh tế và du
lịch. Quảng bá rộng rãi các làng nghề đang hoạt động ở vùng, tổ chức hoạt động
“ngày hội làng nghề” để tăng sức hút với du khách, tuyên truyền và phổ biến cho
người dân về cách cư xử văn minh với khách du lịch cũng như cập nhật những công
nghệ thông tin mới nhất để phục vụ cho phát triển các làng nghề. Ưu tiên sử
dụng nguồn nhân lực tại địa phương, đồng thời thu phí từ các công ty du lịch để
tái đầu tư. Kinh doanh sản phẩm lưu niệm là sản phẩm của làng nghề và đưa vào
khai thác loại hình tour: “một ngày làm nghệ nhân”.
![]() |
| Đến Cần Thơ tham quan làng nghề Chằm nón lá hấp dẫn |
![]() |
| Bánh Pía Vũng Thơm miền tây |
![]() |
| Thăm làng hoa Tân Quy Đông |
-
Tăng Thị Duyên Hồng (2010) nghiên
cứu về “Du lịch bền vững dựa vào cộng đồng – một giải pháp phát huy lợi thế
sông và biển, đảo trong phát triển du lịch tại ĐBSCL” đề cập đến yếu tố bền
vững trong phát triển du lịch ở ĐBSCL cần dựa vào cộng đồng và cũng đề ra một
số giải pháp để nâng cao hơn nữa chủ đề du lịch cộng đồng ở ĐBSCL. Du lịch bền
vững dựa vào cộng đồng cũng đang trên đà trở thành “thương hiệu” du lịch của
ĐBSCL. Loại hình này đặc biệt có đóng góp thiết thực vào sự phát triển của cộng
đồng dân cư địa phương và đang rất được quan tâm hiện nay.
Năm 2007 Tổ chức phát triển Hà
Lan đã tài trợ thực hiện “nghiên cứu về du lịch cộng đồng ở Việt Nam”, dự án
này được thực hiện bởi Bùi Thanh Hương và
Nguyễn Đức Hoa Cương của trường Đại học Hà Nội. Dự
án này nghiên cứu về các mô hình Du lịch cộng đồng tại Việt Nam, đưa ra những
đặc điểm cơ bản, việc triển khai thực hiện, những thách thức gặp phải, từ đó
rút ra bài học cho việc quy hoạch và tổ chức thực hiện cho loại hình này. Bài
nghiên cứu đề cập cụ thể đến trường hợp của Tiền Giang – Đảo Kỳ Lân và An Giang
– Mỹ Hòa Hưng tuy nhiên cũng có phần mở rộng cho các địa phương trong vùng. Đây
là một công trình bài bản và có giá trị cho các nhà hoạch định để quy hoạch
phát triển loại hình này cho vùng ĐBSCL.
![]() |
| Mô hình Khu du lịch sinh thái |
-
Một loại hình du lịch nữa mà
không thể không nhắc đến khi bàn về du lịch vùng ĐBSCL chính là du lịch sinh
thái. Tuy nhiên, cũng giống như các loại hình khác, khoảng cách giữa tiềm năng
và sự phát triển hiện tại của du lịch ĐBSCL vẫn là vấn đề nhức nhối. Nguyên
nhân cho vấn đề này được rất nhiều nhà nghiên cứu mổ xẻ phân tích như loạt công
trình nghiên cứu của Huỳnh Quốc Thắng (2011) “Văn hóa sinh thái sông, biển & Du lịch Đồng
bằng Sông Cửu Long” (2011) – tạp chí khoa học Xã hội và “Góp thêm ý tưởng về
chiến lược phát triển sản phẩm du lịch ĐBSCL” (2009) - Kỷ yếu hội thảo Phát
triển du lịch bền vững vùng ĐBSCL, Thành phố Cần Thơ, “Phát triển du lịch bền
vững vùng ĐBSCL” của Phạm Trung Lương (2012), “Thời cơ và định hướng liên kết
phát triển du lịch ĐBSCL trên nền sông nước” của Nguyễn Trần Dương (2010) hay “
Một số suy nghĩ về liên kết phát triển du lịch biển, đảo, sông vùng ĐBSCL” của
Nguyễn Thanh Tuyền (2010). Đồng thời, các công trình nghiên cứu tại các hội
thảo du lịch này cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp
trong mọi hoạt động cả ngành mà nhấn mạnh là giải pháp liên kết, hợp tác và đầu
tư phát triển hoạt động du lịch qua đó học hỏi kinh nghiệm của bạn bè thế giới
trong công tác quản lý du lịch.
Hiện tại các tài liệu nghiên cứu
dưới dạng các giáo trình, tài liệu tham khảo về du lịch ĐBSCL còn ít, chủ yếu
là các sách mang tính tham khảo, sổ tay hướng dẫn du lịch, báo cáo kinh tế,…có
rất ít những giáo trình tài liệu tham khảo chính thức về thực trạng phát triển
du lịch của vùng. Có thể tìm thấy thông tin trong các sách viết về Nam Bộ nhưng
cũng chỉ riêng lẻ từng tỉnh chứ không phải là tổng thể cho cả Vùng, ví dụ như:
-
Tài liệu “Du lịch ba miền” (Bửu
Ngôn, 2012), khi viết về miền Nam tác giả có đề cập đến các tỉnh ĐBSCL, tuy
nhiên chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sơ lược về vị trí địa lý, các địa danh
thắng cảnh du lịch ở mỗi tỉnh, cung cấp những thông tin về chỗ ở, các quán ăn,
thông tin về điểm và các tuyến điểm du lịch,…Chính vì vậy tài liệu mang tính
chất như là một quyển sổ tay du lịch.
-
Trong “Nam Bộ Xưa & Nay”
(nhiều tác giả, 2013) các tác giả đề cập đến vùng “Đất lành chim đậu” dưới góc
độ lịch sử của vùng ĐBSCL từ lúc hình thành, trải qua các thời kì lịch sử cho
đến nay cũng như nêu lên sự gắn kết giữa cộng đồng dân cư trong vùng.
- Còn với “Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ” (Trần Ngọc Thêm và cộng sự,
2013) đã trình bày một cách khái quát nhất con người và mảnh đất vùng ĐBSCL và
cho rằng Tây Nam Bộ là vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời,
với
vị trí địa lý, cùng điều kiện tự
nhiên thuận lợi cũng như có nền văn hóa đa dạng và đặc biệt có thể đóng góp cho
phát triển kinh tế của cả nước. Để phát huy được tính đặc biệt này thì cần “một
chất liệu tinh thần là văn hóa” vì “Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã
hội, vừa là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” (Hội
nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII,
1998), “phát triển văn hóa là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế xã
hội” (Hội nghị lần thứ 10 của Ban chấp hành Trung ương đảng cộng sản Việt Nam
khóa IX, 2004). Công trình nghiên cứu cung cấp một cái nhìn tổng thể về các
thành tố của Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ, tìm hiểu hệ tính cách văn hóa
đặc trưng để trên cơ sở đó nhận diện bản sắc văn hóa vùng của khu vực Tây Nam
Bộ cùng các hệ quả, các điểm mạnh và điểm yếu của nó trong quá trình đi sâu vào
toàn cầu hóa và hội nhập. Từ việc hiểu rõ văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ sẽ
giúp giải thích các vấn đề khúc mắc nảy sinh trong mọi mặt đời sống văn hóa xã
hội hiện tại, điều đó sẽ góp phần vào phát triển du lịch. Chính vì vậy, việc
hiểu được vấn đề này sẽ giúp được nhiều trong việc nhìn nhận, đánh giá khả năng
phát triển du lịch của vùng ở góc độ văn hóa.
Một số công trình nghiên cứu
trong nước tiêu biểu khác liên quan đến phát triển du lịch mà tác giả được tiếp
cận như:
-
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của
du lịch Việt Nam thời kỳ hội nhập” (Hoàng Tuấn Anh, 2016) đã cho thấy được tầm
quan trọng của du lịch trong phát triển kinh tế của đất nước. Chỉ rõ sự quan
tâm của Nhà nước đến sự phát triển du lịch thông qua các nghị quyết miễn thị
thực có thời hạn đối với công dân một số quốc gia. Bên cạnh đó còn có rất nhiều
chính sách mới nhằm cải thiện những yếu kém hiện tại, thúc đẩy du lịch phát
triển đặc biệt là trong thời kì hội nhập. Du lịch phát triển sẽ tạo động lực
cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đưa hình ảnh về đất nước và con
người Việt Nam ra thế giới.
- Đề tài “Phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo tại Lào Cai” của
(Phan Ngọc Thắng, 2008) phân tích mô hình phát triển du lịch gắn với xóa đói
giảm nghèo tại miền núi, nhiều đề xuất phát triển du lịch có tính thuyết phục.
Tuy vậy, công trình nghiên cứu phát triển du lịch Lào Cai vẫn chưa được đặt trong tổng
thể phát triển du lịch vùng Tây Bắc.
- Công trình nghiên cứu “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ
Bàng” (Trần Tiến Dũng, 2007), tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê điều tra
chọn mẫu để phân tích du lịch bền vững và hệ thống đánh giá du lịch bền vững từ
đó đưa ra một số giải pháp cho phát triển du lịch bền vững Phong Nha – Kẻ Bàng.
Tuy nhiên, các giải pháp vẫn chưa nhấn mạnh đến tính liên vùng trong phát triển
du lịch.
- Công
trình nghiên cứu “Phát triển du lịch tỉnh An Giang đến năm 2020”
(Mai Thị
Ánh Tuyết, 2007) đã đưa ra mô hình pháp triển du lịch đặc trưng của
Đồng bằng Sông Cửu Long, nhấn mạnh tính liên vùng với
những đề xuất có tính thực tiễn cao. Tuy nhiên, tác giả chỉ ập trung phân tích
và nghiên cứu hoạt động du lịch ở một địa phương là An Giang.
-
Đề tài luận án tiến sĩ “nghiên
cứu Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch thành phố Hồ Chí
Minh đến năm 2020” (Nguyễn Cao Trí, 2011) đã phân tích hệ thống đánh giá năng lực cạnh
tranh các doanh nghiệp du lịch tại TP.HCM trong mối liên hệ với ngành du lịch
của các địa phương khác, bài nghiên cứu đã vận dụng kết hợp các phương pháp
nghiên cứu và lý thuyết cạnh tranh để xác định và nâng cao năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh các
doanh nghiệp du lịch tại TP. HCM.
-
Đề tài “Nghiên cứu Kinh tế du
lịch ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong hội nhập kinh tế quốc tế” (Nguyễn Thị Hồng
Lâm, 2013) đã đánh giá một cách tương đối đầy đủ và chi tiết về thực trạng phát triển du lịch
vùng Bắc Trung Bộ, phân tích những thành tựu và hạn chế, tìm ra những nguyên
nhân chủ quan, khách quan dẫn đến các kết quả trên. Công trình nghiên cứu đã
đưa ra các giải pháp mang tính tổng hợp và đồng bộ từ phát triển sản phẩm du
lịch, giải pháp về đầu tư, liên kết du lịch đến giải pháp phát triển bền
vững…đối với kinh tế du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Bài nghiên cứu trên rất gần gũi
với đề tài nghiên cứu của tác giả tuy nhiên được nghiên cứu ở một vùng khác.
Ngoài ra, còn một số hội thảo khoa học về du lịch
được tổ chức ở Việt Nam cũng được tác giả tham khảo trong quá trình nghiên cứu
như:
- Hội nghị Quốc tế về du lịch bền vững ở Việt Nam do Tổng cục Du lịch Việt
Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (Cộng Hòa Liên Bang Đức) được tổ chức tại Huế,
tháng 5/1997.
- Hội thảo “Du lịch sinh thái với phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam”
diễn ra tại Hà Nội, tháng 4/1998;
-
Hội thảo “Xây dựng chiến lược
Quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam” được tổ chức vào tháng
9/1999, tại Hà Nội, do Tổng cục Du lịch phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên
nhiên Thế giới và Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương.
- Tại Diễn đàn Du lịch Á Âu (ASEM 2008) lần thứ 3 với chủ đề “Tăng cường
quan hệ đối tác Á Âu vì sự phát triển du lịch bền vững” đã được tổ chức tại
Việt Nam trong
tháng 9/2008.
- Ngày 12/5/2010, tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Học viện MêKông
(Thái Lan) và Trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế phối hợp tổ chức Hội thảo Quốc
tế về “Quản trị du lịch sinh thái cộng đồng”.
- Tháng 6/2012, Tổng cục Du lịch đã phối hợp cùng Cơ quan Hợp tác Quốc tế
Tây Ban Nha tổ chức tập huấn, hội thảo với chủ đề “Hướng dẫn phát triển du lịch
có trách nhiệm”, hội thảo nằm trong khuôn khổ dự án “Tăng cường cho ngành Du
lịch Việt Nam trong thực hiện “Chiến lược phát triển Du lịch giai đoạn 2011 -
2020, tầm nhìn 2030”.
- Tổng cục Du lịch tổ chức hội thảo “Hoàn thiện nội dung sổ tay hướng dẫn
du lịch sinh thái ở Việt Nam” tháng 5/2012.
-
Tháng 4/2013, dự án MEET-BIS đã
phối hợp với Tổng cục Du lịch tổ chức Hội thảo “Du lịch xanh nhằm hướng tới
phát triển du lịch Việt Nam bền vững”, trong đó, rất nhiều tham luận được trình
bày về cơ sở lý luận và những kinh nghiệm thực tiễn phát triển Du lịch của Việt
Nam theo hướng bền vững và gắn với hội nhập quốc tế.
-
Hội thảo khoa học “Phát triển du
lịch bền vững từ thực tiễn của các tỉnh, thành phía nam” tháng 10/2016 của tỉnh
ủy Bình Phước, các bài viết tập trung nghiên cứu về vấn đề phát triển bền vững
ở từng địa phương ở khu vực phía nam trong đó có các tỉnh thuộc ĐBSCL, tuy
nhiên mỗi địa phương được nghiên cứu một cách riêng lẻ theo thực tiễn ở mỗi
nơi, chưa được nghiên cứu trên phương diện tổng thể của toàn vùng.
-
Ngày 16/4/2016, tại Trung tâm Hội
chợ và Triển lãm Việt Nam, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội thảo xây dựng Chiến
lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm
2030. Hội thảo đề cập đến Việt Nam sẽ phát triển hệ thống sản phẩm du lịch bền
vững, có tính cạnh tranh cao với 4 sản phẩm chủ đạo là du lịch biển đảo, du
lịch văn hóa, du lịch sinh thái và du lịch đô thị, theo đó sẽ phát triển sản
phẩm du lịch đặc trưng theo vùng tạo sự độc đáo, khác biệt và đa dạng hóa sản
phẩm dựa trên hệ thống sản phẩm du lịch của 7 vùng gồm: Vùng Trung du và miền
núi Bắc bộ, Vùng Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc, Vùng Bắc Trung bộ,
Vùng duyên hải Nam Trung bộ, Vùng Tây Nguyên, Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long,
Vùng Đông Nam bộ với các sản phẩm du lịch đặc thù, du lịch chính, du lịch bổ
trợ và thị trường thu hút khách cụ thể. Hội thảo nhấn mạnh đến sự hợp tác giữa
hàng không và du lịch, vai trò của doanh nghiệp và tầm quan trọng của việc thu
hút và đào tạo nguồn nhân lực, đề xuất phát triển du lịch có trách nhiệm và
phát triển du lịch đi đôi với bảo vệ môi trường…
-
Hội thảo khoa học cấp Trường về
“Quy hoạch du lịch hướng đến phát triển bền vững” của Viện Du lịch thuộc trường
Đại học Kinh tế TP. HCM ngày 25/11/2016 có các bài viết về quy hoạch phát triển
du lịch dưới các góc độ khác nhau. Tác giả Đoàn Thị Hồng Vân cùng với Trần Việt
Khoa và Hà Đức Sơn viết về “du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam” – bài viết
đã làm rõ được bản chất, đặc điểm và vai trò của du lịch tâm linh, tìm ra được
những nguyên nhân làm cho du lịch tâm linh chưa phát triển đúng với tiềm năng
của nó.
Cũng trong Hội thảo, nổi bật có
bài viết của tác giả Nguyễn Đức Trí về “Phát huy giá trị văn hóa cội nguồn để
phát triển sản phẩm du lịch tại Đồng bằng Sông Cửu Long” cụ thể lấy Tiền Giang - là một trong
những điểm đến tiêu biểu của du lịch ĐBSCL, có nhiều nét văn hóa tương đồng với
các tỉnh còn lại - làm địa bàn nghiên cứu. Trong bài viết tác giả đã trình bày
và phân tích rõ các khái niệm về văn hóa, giá trị văn hóa cội nguồn và khuynh
hướng phát triển du lịch văn hóa cội nguồn, giải thích rõ thế nào là sản phẩm
du lịch và tầm quan trọng của phát triển sản phẩm du lịch nói chung và phát
triển sản phẩm du lịch văn hóa cội nguồn nói riêng, mang đến cho người đọc
những góc nhìn khác nhau về văn hóa cội nguồn.
Ngoài ra, còn có một số công
trình nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu, luận án tiến sĩ, giáo trình
giảng dạy về du lịch… đã đề cập đến vấn đề Du lịch với những góc độ tiếp cận
khác nhau, tiêu biểu như của các tác giả: Lê Văn Lanh, Phạm Trung Lương, Nguyễn
Thị Hải, Đặng Duy Lợi, Nguyễn Thị Sơn…
- “Du lịch
sinh thái những vấn đề về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” (Phạm
Trung
Lương, 2010).
-
“Du lịch sinh thái – Ecotourism”
(Lê Huy Bá, 2006); Du lịch bền vững (Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, 2001).
-
“Phát triển du lịch bền vững -
quan điểm chiến lược của phát triển du lịch Việt Nam” kỷ yếu Hội nghị Toàn quốc
về phát triển bền vững tháng 12/2004 (Vũ Tuấn Cảnh
và Phạm Trung Lương, 2004).
Từ các công trình nghiên cứu trên
cho thấy các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về một lĩnh vực, sản phẩm cụ
thể của ngành du lịch ở riêng lẻ từng địa phương, chưa có cái nhìn tổng thể cho
hệ thống phát triển du lịch chung của vùng, sự tác động của các yếu tố bên
ngoài như: hội nhập quốc tế, quản lý nhà nước,…cũng như yếu tố bên trong như:
các loại hình du lịch trong vùng, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du
lịch, tầm quan trọng của nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch của vùng,…
Xuất phát từ việc tìm hiểu các
công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả đã xác định những khoảng
trống trong nghiên cứu, trên cơ sở đó xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố
tác động đến phát triển du lịch vùng ĐBSCL, từ đó đi sâu vào phân tích thực trạng và đề ra những chính
sách và giải pháp phù hợp nhằm phát triển du lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập
quốc tế
1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Một số công trình nghiên cứu của
các học giả và nhà nghiên cứu của nước ngoài được tác giả tiếp cận, chủ yếu tập
trung nghiên cứu một số vùng sinh thái đặc trưng của ĐBSCL, tiêu biểu như:
Một số ấn
phẩm của các tác giả nước ngoài đã được tác giả tham khảo như:
-
Commonweath of Autralia (1991)
cho rằng du lịch là một động lực to lớn cho tăng trưởng kinh tế và đem lại
những lợi ích văn hoá, xã hội cho cộng đồng dân cư, tuy nhiên nó cũng có những
tác động tiêu cực đối với chất lượng sống như môi trường, văn hoá, việc làm,
thu nhập…vì vậy cần có sự quản lý chặt chẽ, có hiệu quả. Báo cáo cũng chỉ ra 5
vấn đề cơ bản cần phải quản lý như: đầu tư - liên kết – việc làm – văn hoá –
nghệ thuật và ngành nghề thủ công.
-
Nghiên cứu của Clemmer (1991) cho
rằng sự hiếu khách thể hiện ở sự chào đón của người làm du lịch và người dân
bản xứ sẽ làm cho du khách vui theo một cách “riêng biệt, độc đáo”, là nhân tố
để thu hút khách du lịch.
- Nghiên
cứu của Smith (1994) chỉ ra rằng hoạt động dịch vụ trong du lịch
như: ngắm nhìn khung cảnh, chỗ nghỉ, chỗ ngồi khi
đi thăm quan, thưởng thức các loại hình văn hoá dân tộc… sẽ giúp cho phần “vật
lý cốt lõi của sản phẩm du lịch” trở nên hữu ích và hấp dẫn đối với du khách.
-
WorldFish Center (2003) với cuốn
“Wetlands Management in Vietnam Issues and Perspectives” đã có những nghiên cứu
khá chi tiết các vấn đề liên quan đến vùng đất ngập nước tại Đồng bằng Sông Cửu
Long và hệ sinh thái của Vùng nhằm khai thác tiềm năng của Vùng cho phát triển
du lịch.
- Theo Diabo (2003) Du lịch có quan hệ chặt chẽ với các “giá trị thương
mại”, cộng đồng dân cư bản xứ cần được tham gia vào “hoạch định, phát triển,
khai thác và quản lý” hoạt động du lịch trên chính vùng đất của họ.
-
Nghiên cứu của Altman và
Finlayson (2003) cho rằng sự phát triển của du lịch đòi hỏi những kỹ năng,
trình độ mà không phải người dân bản xứ nào cũng có
thể đáp ứng được như: trình độ ngoại ngữ, kỷ luật, theo học các khoá
huấn luyện, kỹ năng giao tiếp với du khách.
-
Đại học Sydney và Trung tâm tài
nguyên Mekong Úc (2004) đã xuất bản “Working paper số 10 Ecotourism and
Community based Ecotourism in the Mekong region” đã phân tích về du lịch sinh
thái và du lịch cộng đồng tại vùng Mekong, đánh giá tiềm năng và thế mạnh về du
lịch sinh thái của Vùng và đề xuất những giải pháp phát triển du lịch sinh thái
của Vùng.
-
Phát triển du lịch văn hoá cội
nguồn cũng được một số học giả nước ngoài nghiên cứu. Sự hấp dẫn của văn hoá
cội nguồn trong du lịch đã được một số học giả nghiên cứu như: Urry, 1990;
Crang, 2004; Salazar, 2009. Thoe Reiner (2015) sự hấp dẫn của du lịch văn hoá
cội nguồn nằm ở chỗ thấu hiểu về nơi chốn và văn hoá. Theo Hager (2003) và
Mather – Simard (2003) hoạt động văn hoá cội nguồn cần được kiểm soát, chỉ đạo
và phối hợp giữa “chính quyền địa phương với các thành viên có uy tín trong
cộng đồng và người dân bản xứ”.
-
IUCN (2008) xuất bản cuốn “The
Ecosystem Approach – Learning from experience” trong đó đã nghiên cứu trực tiếp
đến hệ thống sinh thái tại Vườn quốc gia Tràm Chim vùng Đồng Tháp Mười, từ đó
đưa ra những chính sách bảo tồn và phát triển Tràm Chim Đồng Tháp Mười.
1.3 Đánh giá về các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến luận án
1.3.1 Những nghiên cứu liên quan được tác giả kế thừa và phát triển trong luận án
-
Các công trình nghiên cứu liên
quan đến du lịch Vùng ĐBSCL, đã chỉ rõ tiềm năng lớn về du lịch của Vùng đặc
biệt là những tiềm năng về tự nhiên.
-
Các nghiên cứu cũng chỉ ra khả
năng phát triển đa dạng phong phú các sản phẩm du lịch của Vùng, đặc biệt là du
lịch sinh thái, du lịch sông nước miệt vườn.
- Nghiên
cứu về du lịch ĐBSCL cũng chỉ ra cần phải có quy hoạch phát triển,
đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng để
khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh về du lịch, để tạo các sản phẩm du
lịch đặc thù của Vùng, đồng thời phải nâng cao chấtlượng dịch vụ du lịch, đẩy mạnh hoạt động quảng bá, liên kết vùng, mở
rộng tour tuyến để phát triển du lịch vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu của hội nhập
quốc tế,
- Các công trình nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu và nhà hoạt
động thực tiễn trong và ngoài nước cùng đã phân tích, đánh giá được những tính
chất, đặc điểm, nội dung cơ bản liên quan đến phát triển du
lịch tại một số địa phương của Việt Nam. Điều này cũng hữu ích cho việc nghiên
cứu hoạt động du lịch vùng ĐBSCL
trong hội nhập quốc tế.
-
Các công trình nghiên cứu của các
học giả trong và ngoài nước cũng chỉ ra rằng: để phát triển du lịch cần bảo
tồn, phát triển các giá trị văn hoá cội nguồn, xây dựng văn hoá du lịch, phối
hợp giữa chính quyền với người dân địa phương vùng ĐBSCL
trong phát triển du lịch.
-
Các công trình nghiên cứu của các
tác giả trong và ngoài nước đề cập đến việc phát triển du lịch của Việt Nam và
vùng ĐBSCL bao gồm các nội dung chính như: phát triển sản phẩm du lịch, phát
triển thị trường du lịch, thu hút đầu tư cho phát triển du lịch, đào tạo nguồn
nhân lực cho phát triển du lịch, phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của một số
địa phương vùng ĐBSCL....đã góp phần cho phân tích, lý giải những điểm mạnh,
điểm yếu trong phát triển du lịch vùng ĐBSCL, từ đó góp phần đưa ra những giải
pháp phù hợp để phát triển du lịch của Vùng trong hội nhập quốc tế.
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến du lịch ĐBSCL của các học giả,
nhà nghiên cứu và nhà hoạt động thực tiễn trong, ngoài nước cũng đem lại nhiều
giá trị về lý luận và thực tiễn cho phát triển du lịch ĐBSCL. Đặc biệt, các
công trình nghiên cứu liên quan đến môi trường tự nhiên và hệ sinh thái của
vùng ĐBSCL đã gây được sự quan tâm, chú ý của các tổ chức quốc tế về bảo tồn
môi thiên nhiên, cũng như quảng bá và thu hút khách du lịch khi đến vùng Đồng
bằng Sông Cửu Long, đây là những nghiên cứu có giá trị về khoa học và thực tiễn
được tác giả kế thừa trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án.
1.3.2. Những khoảng trống trong các công trình nghiên cứu về du lịch liên quan đến luận án
-
Một số công trình nghiên cứu nước
ngoài đề cập đến xu hướng phát triển du lịch của khu vực và thế giới tác động
đến sự phát triển của du lịch Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về du lịch
trong nước tập trung chủ yếu vào các địa phương ngoài vùng ĐBSCL, hoặc từng địa
phương riêng lẻ trong vùng ĐBSCL, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu
về phát triển du lịch vùng Đồng bằng Sông Cửu Long trong hội nhập quốc tế.
- Các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước liên quan
đến du lịch vùng ĐBSCL còn thiên về lý luận, chỉ dừng lại mức độ nghiên cứu
tổng quát, hàn lâm, hoặc nghiên cứu một địa phương trong vùng ĐBSCL, chưa
nghiên cứu chi tiết, tổng thể nhằm phục vụ cho việc phát triển du lịch vùng
ĐBSCL. Các công trình nghiên cứu vẫn chưa nghiên cứu sâu về những đặc trưng về
văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện tự nhiên… của toàn vùng ĐBSCL.
-
Có thể thấy các công trình nghiên
cứu về du lịch liên quan đến đề tài được tác giả tham khảo, đã chỉ ra những tồn
tại bất cập trong hoạt động du lịch, đồng thời xác định một số tiềm năng, thế
mạnh chưa được khai thác của du lịch vùng ĐBSCL. Các nghiên cứu này, còn mang
tính rời rạc cho từng loại hình và từng địa phương, từng địa điểm du lịch của
Vùng chưa đi sâu vào những giải pháp tổng thể cho phát triển du lịch của vùng
ĐBSCL trong hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, đây cũng là những nghiên cứu cần thiết
được tác giả kế thừa để phân tích và đưa ra những giải pháp phù hợp cho phát
triển du lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.
-
Các công trình nghiên cứu liên
quan chưa chỉ ra phải làm sao liên kết phát triển du lịch vùng ĐBSCL với các
tỉnh, thành phố phía Nam, với vùng duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, các vùng
phía Bắc, trong khu vực và thế giới, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội từng địa phương, từng vùng, nhưng vẫn đảm bảo được sự thống nhất với chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch
của Việt Nam.
- Các công trình nghiên cứu về du lịch ở trong và ngoài nước chưa chỉ ra
biện pháp để huy động mọi nguồn lực cho phát triển du lịch hài hòa với các mục
tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng,
đồng thời thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực du lịch, không chỉ là việc chính
quyền giới thiệu có bao nhiêu dự án, chính sách ưu đãi thế nào, quan trọng hơn
là chính quyền phải cam kết những việc gì là cơ bản và chủ yếu mà mình phải làm
để đồng hành cùng nhà đầu tư để
phát triển du lịch ĐBSCL.
-
Các công trình nghiên cứu về du
lịch cũng chưa đưa ra những giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý nhà nước về du lịch, cán bộ quản lý các doanh nghiệp du lịch và các khu
du lịch tại các địa phương, việc liên kết đào tạo, tập huấn, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực du lịch
của các địa phương vùng ĐBSCL.
Tóm tắt chương 1
Trong chương 1, tác giả đã phân
tích, đánh giá tóm tắt các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan
đến vấn đề phát triển du lịch nói chung và du lịch ĐBSCL nói riêng trong thời
kỳ hội nhập.
Đối với các nghiên cứu trong
nước, tác giả đã tham khảo nhiều công trình nghiên cứu, luận án, các bài báo
khoa học cùng với một số hội thảo về du lịch diễn ra trong nước. Các bài viết
được tham khảo dưới nhiều góc độ khác nhau như: các tài liệu nghiên cứu dưới
dạng các công trình nghiên cứu chuyên khảo, đề tài, luận án giới thiệu tổng
quan về điều kiện tự nhiên, văn hóa và con người vùng ĐBSCL. Một số công trình
nghiên cứu chi tiết và cụ thể hơn về du lịch Vùng để đưa ra một số định hướng
và giải pháp phát triển du lịch Vùng, đặc biệt là việc phát triển các loại hình
du lịch như: du lịch sinh thái, miệt vườn, du lịch lễ hội, du lịch văn hóa dân
tộc, du lịch làng nghề,…Ngoài ra, tác giả còn tham khảo một số bài viết chuyên
khảo về phát triển du lịch của các địa phương trong vùng ĐBSCL, để kế thừa và
phát triển trong quá trình nghiên cứu luận án.
Bên cạnh các bài công trình
nghiên cứu trong nước, tác giả còn tham khảo một số công trình nghiên cứu của
nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài chủ yếu tập trung
nghiên cứu về hệ sinh thái đặc trưng của vùng ĐBSCL, các thế mạnh và tiềm năng
phát triển du lịch sinh thái, du lịch cội nguồn và du lịch cộng đồng, từ đó đề
xuất các giải pháp cho phát triển du lịch của Vùng.
Từ việc nghiên cứu tổng quan các
công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả rút ra những nội dung nghiên
cứu được kế thừa trong luận án, đồng thời xác định những khoảng trống trong các
công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến du lịch phát triển du
lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế, từ đó làm cơ sở cho việc đi sâu nghiên cứu
và đề ra những chính sách và giải pháp để phát triển du lịch ĐBSCL trong hội
nhập quốc tế.





Nhận xét
Đăng nhận xét