Chuyên đề "Phát triển du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long trong hội nhập quốc tế" - TS.Nguyễn Hoàng Phương
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1 Dịch vụ du lịch và thị trường du lịch
2.1.1 Dịch vụ du lịch
Du lịch là một trong những lĩnh vực của ngành dịch
vụ, nó mang những đặc trưng chung của ngành dịch vụ, nhưng đồng thời cũng có những
đặc điểm riêng mang tính đặc thù. Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những
người khách đi du hành, lưu trú, tạm trú với mục đích thăm quan, khám phá và
tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí,
thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, những hoạt
động này được diễn ra trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên
ngoài môi trường sống định cư.
![]() |
| Vẻ đẹp của rừng tràm Trà Sư - An Giang. |
Tiếp cận từ góc độ kinh tế du lịch có khái niệm: Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp, có sự phối hợp giữa các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp nhằm thỏa mãn các nhu cầu về ăn uống, lưu trú, tham quan,…của du khách từ
đó tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, giá trị tinh thần cho khách du lịch và đảm
bảo sự phát triển bền vững. (UNWTO,
1992). Bên cạnh khái niệm về du lịch, thì chức năng của du lịch, sản phẩm du lịch,
khách du lịch và loại hình du lịch cũng được nghiên cứu một cách chi tiết trong
luận án.
2.1.2 Thị trường du lịch
Thị trường du lịch, theo cách hiểu đơn giản nhất là
nơi diễn ra các hoạt động mua bán sản phẩm du lịch. Thị trường du lịch là phạm
trù của nền kinh tế hàng hóa, nó là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế của
con người phát sinh trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá. Sự hình
thành thị trường du lịch gắn liền với sự phát triển của sản xuất hàng hoá và
phân công lao động xã hội, hoạt động du lịch được xã hội hóa khi kinh tế - xã hội
phát triển đến trình độ nhất định. Thị trường du lịch được phân loại theo địa
lý, theo thị trường du lịch thực tế và tiềm năng, phân loại theo dịch vụ du lịch
và theo đặc điểm kinh doanh lữ hành.
2.2 Cơ sở
lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển
du lịch trong hội nhập quốc tế
2.2.1 Cơ
sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về sự ra đời của ngành dịch vụ du lịch
Kinh tế học Mác - xít không nghiên cứu trực tiếp về
du lịch, nhưng nghiên cứu sự phát triển của phân công lao động xã hội là điều
kiện, tiền đề cho sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển, đồng thời làm cơ sở cho
việc phân chia và hình thành các ngành kinh tế nói chung và ngành du lịch nói
riêng. Trong giai đoạn đầu của lịch sử phân công lao động xã hội còn mang tính
chất tự nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, phân công lao động
xã hội ngày càng phát triển, dẫn đến hình thành các ngành
chuyên môn hoá, từ đó hình thành các ngành - nông nghiệp, dịch vụ và sự phân
công lao động trong từng ngành cũng được phát triển, du lịch được ra đời và
phát triển cùng với sự phát triển của phân công lao động trong ngành dịch vụ.
Như vậy, kinh tế học Mácxít cho rằng chính sự phát triển của phân công lao động
xã hội dẫn đến sự ra đời và phát triển của ngành du lịch. Cũng giống như hàng
hóa hữu hình, hàng hóa dịch vụ du lịch trên thị trường cũng có hai thuộc tính
cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng. Giá cả của các sản phẩm du lịch được biểu
hiện thông qua trao đổi, mua bán trên thị trường và cũng tuân theo yêu cầu của
quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và các quy luật kinh tế
khác của nền kinh tế thị trường.
2.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch trong hội nhập
quốc tế
Từ năm 1994, khi Việt Nam bắt đầu quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW về “Phát triển du lịch
trong tình hình mới” nhằm đưa ra các quan điểm chỉ đạo cho phát triển du lịch
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Năm 1998, khi hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, Bộ Chính trị đã họp bàn chuyên đề về phát triển
du lịch và ban hành “Thông báo Kết luận số 179-TB/BCT” trong đó nêu rõ ý kiến
chỉ đạo: cần tập trung, đẩy mạnh phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng
của đất nước. Trong những năm gần đây nhà nước đã ban hành nhiều văn bản thể hiện
chủ trương, chính sách của nhà nước trong phát triển du lịch: Nghị quyết số
33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về “xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày
8/12/2014 “Về một số giải pháp đẩy mạnh
phát triển du lịch Việt Nam trong thời
kỳ mới”; Pháp lệnh Du lịch, 2/1999 cũng đã xác định: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang
nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát
triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân
và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước; “Chiến lược phát triển du lịch
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
quyết định số 2743/QĐ-TTg ngày 29-12-2011; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết
định số 201/QĐ-TTg ngày 22-01-2013; Đề án “Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù
vùng ĐBSCL” được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt tại Quyết
định số 194/QĐ-BVHTTDL ngày 23-01-2015.
2.3 Vai
trò của ngành du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội
2.3.1 Vai
trò của ngành du lịch đối với phát triển kinh tế
Du lịch là một ngành kinh tế có tốc độ phát triển
ngày càng cao đối với các quốc gia phát triển và đang phát triển, đặc biệt là
đối với những quốc gia có tiềm năng về du lịch. Du lịch đã và đang đóng góp một
phần đáng kể trong tăng trưởng kinh tế và trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Du lịch là một ngành tổng hợp nó chịu tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội. Sự phát triển của ngành du lịch gắn liền với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nước. Qua thực tiễn phát triển ngành du lịch của
các quốc gia cho thấy, du lịch là một ngành kinh doanh thường đạt hiệu quả cao,
vốn đầu tư ít và khả năng thu hồi vốn nhanh, đồng thời góp phần giữ gìn, tôn tạo,
phát triển những nét văn hoá truyền thống đặc sắc của mỗi quốc gia. Trong lĩnh
vực kinh tế đối ngoại, ngành du lịch thực hiện việc “xuất khẩu tại chỗ” đạt
nguồn thu ngoại tệ lớn với hiệu quả cao. Phát triển ngành du lịch còn góp phần
tích cực tạo việc làm cho một lực lượng lao động xã hội và cải thiện đời sống
cho nhân dân nói chung. Du lịch luôn có vai trò nhất định đối với sản xuất và
xuất khẩu, đầu tư sử dụng nhân công, trong giao thông vận tải, viễn thông tin học
và vấn đề đô thị hóa.
2.3.2 Vai trò của ngành du lịch
trong lĩnh vực văn hóa – xã hội Du lịch
ngày càng trở thành một nguồn lực cho tăng trưởng, tạo
việc làm và tăng thu nhập của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam, sự
phát triển của du lịch góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Du lịch phát
triển tạo môi trường, thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng dân cư trong
và ngoài nước, du lịch phát triển góp phần xây dựng ý thức bảo
vệ môi trường và phát triển các kĩ năng mềm, việc phát triển du lịch còn góp phần
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
2.4 Phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế
2.4.1 Thuận lợi
Hội nhập quốc tế là việc gắn kết giữa thị trường
trong nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua việc thực hiện mở cửa
và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế, cùng với việc gia nhập và góp phần xây dựng
các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu. Trong hội nhập quốc tế sâu rộng sẽ góp
phần phát triển du lịch đây là vấn đề tất yếu và mang tính khách quan. Du lịch
là cầu nối giao lưu văn hóa giữa các nước, tạo sự thân thiện, hợp tác giữa các
nước, củng cố, mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Du lịch là “hộ chiếu đi
đến hòa bình”, làm tăng uy tín và vị thế của quốc gia trên thị trường thế giới,
đồng thời tham gia sâu rộng vào thị trường quốc tế (Tuyên bố Manila về Du lịch).
Hội nhập quốc tế đòi hỏi du lịch phải từng bước hiện đại hóa, hệ thống hóa và nâng
cao chất lượng dịch vụ du lịch. Đến lượt nó, du lịch phát triển làm cho hội
nhập quốc tế của các quốc gia càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và thu hẹp khoảng
cách phát triển giữa các nước.
2.4.2 Khó khăn và thách thức
Tuy nhiên việc hội nhập bên cạnh những mặt thuận lợi
còn có nhiều khó khăn, thách thức. Trước hết là thách thức trong năng lực cạnh
tranh đặc biệt ở các nước đang phát triển. Vấn đề lớn nhất trong hội nhập chính
là việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bởi lẽ hội nhập là nơi
giao thoa của các nền văn hóa khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi để các nước
trao đổi và làm giàu thêm các giá trị văn hóa quốc gia, tuy nhiên nếu không có
nền tảng vững chắc sẽ làm phai nhạt bản sắc văn hóa của dân tộc.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã và đang trên con
đường hội nhập quốc tế thông qua việc nỗ lực chủ động gắn kết nền kinh tế thị
trường với nền kinh tế của khu vực và thế giới bằng các hiệp định song phương và
đa phương trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc
phòng,…Việc hội nhập được thực hiện cả bên trong và bên ngoài
thông qua ký kết và tuân thủ các định chế, để đảm bảo các luật chơi chung với
các thành viên trong các tổ chức kinh tế quốc tế, đồng thời từng bước thay đổi
để phù hợp với các yêu cầu hội nhập quốc tế thông qua việc cải cách, điều chỉnh
các chính sách, quy định về kinh tế, các thể chế kinh tế - xã hội. Sự phát triển
của du lịch trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam sẽ góp phần thúc đẩy
sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội trong nước.

Nhận xét
Đăng nhận xét