Chuyên đề "Phát triển du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long trong hội nhập quốc tế" - Tiến Sĩ.Nguyễn Hoàng Phương
Phát triển du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.
Tính cấp
thiết của đề tài
Từ khi mở
cửa và hội nhập, ngành du lịch Việt Nam đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân, đã đóng góp quan
trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong quá trình
hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế của khu vực và thế giới, du lịch Việt Nam đã
và đang là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế, thúc đẩy quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nền kinh tế sớm đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại. Đồng thời, sự phát triển của ngành du lịch trong quá trình
hội nhập quốc tế còn góp phần làm gia tăng sự hiểu biết, sự thân thiện và quảng
bá nền văn hóa, danh lam, thắng cảnh và con người Việt Nam với thế giới.
Trong “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt đã xác
định: “Đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính
chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại;
sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc
văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới. Phấn
đấu đến năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển”. Cụ
thể hoá “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030”, trong “Đề án phát triển du lịch vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đến
năm 2020” được Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) phê
duyệt tại Quyết định số 803/QĐ-BVHTTDL ngày 9/3/2010, mục tiêu phát triển du
lịch vùng ĐBSCL được xác định là: Phát triển du lịch vùng ĐBSCL dựa trên thế
mạnh của từng khu vực, từng địa bàn trong Vùng, tạo sản phẩm đặc thù, độc đáo,
tạo điểm đến hấp dẫn của quốc gia và khu vực để thu hút khách du lịch trong và
ngoài nước.
Vùng đồng bằng Sông Cửu Long còn có nhiều tiềm năng
để phát triển du lịch, trong Vùng đã hình thành các điểm du lịch có tầm cỡ quốc
gia như điểm du lịch Cần Thơ mang sắc thái của vùng Tây Đô, du lịch sinh thái
rừng ngập mặn Cà Mau, Du lịch sinh thái vùng Đồng Tháp Mười, du lịch
biển đảo Phú Quốc…Thời gian qua, du lịch vùng ĐBSCL với những thế mạnh đặc
trưng của vùng như hệ sinh thái đất ngập nước độc đáo với hệ thống sông ngòi,
kênh rạch dày đặc, sản vật phong phú đã thu hút được một lượng lớn khách du
lịch trong và ngoài nước với kết quả đáng ghi nhận như: trong giai đoạn
2006-2015 lượng khách du lịch đến vùng ĐBSCL tăng trung bình 11%/năm, trong đó
khách du lịch quốc tế tăng gần 8,5%/năm, khách du lịch nội địa tăng gần
12%/năm. Tổng thu từ khách du lịch tăng trung bình 23,6%/năm. Năm 2015 vùng
ĐBSCL đã đón hơn 12 triệu lượt khách, trong đó có hơn 1,8 triệu lượt khách du
lịch quốc tế chiếm 8,27% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, đứng thứ 4 sau vùng
Đông Nam bộ, Đồng bằng Sông Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ và 10,63 triệu lượt
khách nội địa (Nguồn Tổng cục Du lịch Việt Nam, năm 2016).
Tuy nhiên, du lịch vùng ĐBSCL vẫn đang có nhiều bất
cập bởi sự trùng lặp trong phát triển các tour, tuyến du lịch trong Vùng, các
tour du lịch kém hấp dẫn, các sản phẩm du lịch của Vùng còn đơn điệu, trùng lắp
và chồng chéo, nguồn nhân lực cho du lịch còn yếu và thiếu, công tác quảng bá,
tiếp thị du lịch chưa đi vào chiều sâu, cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ du lịch
chưa tương xứng với thế mạnh và tiềm năng của Vùng, nguồn nhân lực phục vụ phát
triển du lịch của Vùng chưa đáp ứng được yêu cầu, thị trường du lịch chậm được
mở rộng, chưa thu hút được nhiều du khách quốc tế, quản lý nhà nước về du lịch
còn yếu kém, bất cập, du lịch ĐBSCL thiếu sự phát triển đồng bộ, còn khép kín,
chưa tạo ra quá trình liên kết trong Vùng để phát triển, chưa đáp ứng được yêu
cầu của quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam. Các địa
phương trong Vùng khi khai thác, phát triển du lịch chưa nhìn nhận được các giá
trị đặc thù, khác biệt của từng địa phương, giá trị và tính hấp dẫn trong tương
quan du lịch của Vùng với các địa phương trong cả nước, chính vì vậy chưa phát
huy có hiệu quả lợi thế về tài nguyên du lịch của Vùng.
Để khai thác và phát huy tiềm năng và thế mạnh của du lịch ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, có tính khoa học để giải quyết các câu hỏi như:
Để khai thác và phát huy tiềm năng và thế mạnh của du lịch ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, có tính khoa học để giải quyết các câu hỏi như:
- Đâu là
tiềm năng và thế mạnh về du lịch vùng ĐBSCL?
-
Làm sao xây dựng và khai thác sản
phẩm du lịch của các địa phương trong vùng ĐBSCL tránh sự trùng lắp?
- Giải pháp đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả quản lý, hoạt động quảng bá cho du
lịch của Vùng trong hội nhập quốc tế?
-
Biện pháp nào làm sao thu hút vốn
đầu tư; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; đảm bảo môi trường, sinh thái cho
phát triển du lịch vùng ĐBSCL?
-
Giải pháp nào để đẩy mạnh liên
kết phát triển du lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế?
Nhằm góp phần giải đáp những câu hỏi trên, đồng
thời đề xuất những chính sách và giải pháp có hiệu quả để phát triển du lịch
vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Phát
triển du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long trong hội nhập quốc tế” làm
đề
tài nghiên cứu của luận án tiến sĩ.
2.Mục tiêu
nghiên cứu của đề tài
-
Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực
tiễn để xây dựng khung phân tích, từ đó phân tích thực trạng những nhân tố tác
động đến sự phát triển của du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế, rút ra những kết quả đạt được và những
tồn tại, hạn chế trong phát triển du lịch của Vùng ĐBSCL, làm cơ sở cho việc đề
ra những chính sách và giải pháp nhằm phát triển du lịch vùng ĐBSCL trong hội
nhập quốc tế.
-
Đề xuất những chính sách và giải
pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn và đem lại hiệu
quả nhằm phát triển du lịch vùng ĐBSCL.
3. Đối tượng
và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối
tượng nghiên cứu
-
Đánh giá nhu cầu du lịch của du
khách trong nước và nước ngoài đến ĐBSCL bao gồm lượng khách, điểm đến và đánh
giá những nhân tố làm hài lòng của du khách khi đến Vùng.
-
Khảo sát du khách trong nước và
nước ngoài đến ĐBSCL bao gồm lượng khách, điểm đến và đánh giá những nhân tố
làm hài lòng của du khách khi đến du lịch Vùng ĐBSCL
-
Phân tích các nhân tố tác động
đến du lịch cho vùng ĐBSCL bao gồm: cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước;
chính sách của các địa phương trong Vùng về phát triển du lịch; tác động của
hội nhập quốc tế; hoạt động của các công ty du lịch và hệ thống cơ sở hạ tầng
kinh tế, văn hoá, xã hội, tài nguyên du lịch trong Vùng tác động đến phát triển
du lịch của Vùng ĐBSCL.
3.2. Phạm
vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động của du lịch vùng ĐBSCL gồm 12
tỉnh và 01 thành phố trực thuộc Trung ương (Thành phố Cần Thơ); dựa vào hệ
thống lý luận của chủ nghĩ Mác – Lênin, gắn với thực tiễn để phân tích và đánh
giá thực trạng phát triển du lịch vùng ĐBSCL.
- Về lý luận: luận án hệ thống hóa các lý luận cơ bản về du lịch bao gồm
lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về hàng hoá dịch vụ, du lịch trong nền kinh
tế thị trường; quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch; lý luận về
du lịch bao gồm sản phẩm du lịch, thị trường và tiêu thức phân loại thị trường
du lịch, vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc
tế, sự phát triển của du lịch trong hội nhập quốc tế, dự báo xu hướng phát
triển du lịch thế giới, khu vực và Việt Nam làm cơ sở cho hoạch định chiến lược
phát triển du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.
- Về mặt thực tiễn: luận án phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du
lịch ĐBSCL gắn với điều kiện về tài nguyên tự nhiên, kinh tế, văn hoá – xã hội
của Vùng, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế của du lịch vùng ĐBSCL,
đánh giá khách quan mặt mạnh, mặt yếu và nguyên nhân khách quan, nguyên nhân
chủ quan làm hạn chế quá trình phát triển du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.
4.
Đóng góp
mới của luận án
Một là: Phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận về du lịch, quan điểm về phát triển du lịch của các nhà kinh tế, chủ
nghĩa Mác – Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam và kết quả khảo sát thực tế của tác giả. Từ đó xây dựng mô hình các nhân
tố tác động đến phát triển du lịch ĐBSCL trong thời kỳ hội nhập.
Ha là: Luận án phân tích rõ tác động của hội nhập quốc tế đối với phát triển du lịch vùng ĐBSCL, mối quan hệ giữa
tài nguyên du lịch với việc phát triển các sản phẩm du lịch trên cơ sở lợi thế
của Vùng để phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế.
Ba là: Luận án đề xuất các chính sách và giải pháp có căn cứ khoa học, có tính khả thi để phát triển du lịch vùng
ĐBSCL trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.
5.
Kết cấu
của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận án gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên
quan đến luận án
Giới thiệu các công trình nghiên cứu về du lịch của các tác giả trong và
ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ đó xác định những nội dung
nghiên cứu được tác giả kế thừa và phát triển trong luận án, đồng thời xác định
những khoảng trống cần nghiên cứu liên quan đến luận án, làm cơ sở cho việc
nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý luận về du
lịch và phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế
Đây là chương lý thuyết nền, tác giả nêu lên một số khái niệm, định
nghĩa và các hoạt động liên quan đến du lịch, mối liên hệ giữa các yếu tố trong
phát triển du lịch, cũng như nêu lên tầm quan trọng của du lịch trong phát
triển kinh tế - xã hội đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập. Việc phát triển du
lịch vùng ĐBSCL phải vừa đảm bảo lợi ích kinh tế, khai thác tiềm năng và thế
mạnh về du lịch, đồng thời đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích
của luận án
Ở chương này tác giả đã xác định các phương pháp luận
nghiên cứu và các phương pháp cụ thể để nghiên cứu luận án, đồng thời xác định
khung phân tích củaluận án. Để từ đó làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng và
đề xuất những chính sách, giải pháp phát triển du lịch vùng ĐBSCL trong hội
nhập quốc tế.
Chương 4: Thực trạng phát triển
du lịch vùng Đồng bằng Sông Cửu Long trong hội nhập quốc tế
Chương này tác giả đi sâu vào việc phân tích thực trạng phát triển du
lịch vùng ĐBSCL trong thời gian năm 2000 - 2015, từ kết quả phân tích này tác
giả rút ra những thành quả đạt được, những hạn chế yếu kém của du lịch vùng
ĐBSCL, làm cơ sở cho việc đề xuất những chính sách và giải pháp phát triển du
lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.
Chương 5: Định hướng, chính sách
và giải pháp phát triển du lịch vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế
Dựa trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển du lịch ĐBSCL trong hội
nhập quốc tế ở chương 4 tác giả đã xác định những định hướng cho phát triển du
lịch ĐBSCL trong thời gian tới, đồng thời đề xuất những chính sách và giải pháp
để phát triển du lịch ĐBSCL trong hội nhập quốc tế nhằm khai thác có hiệu quả
những tiềm năng và thế mạnh về du lịch của Vùng.
Tác giả: TS.Nguyễn Hoàng Phương
Nhận xét
Đăng nhận xét